CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996               CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996               CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996                                  TIN TỔNGHỢP                     GIÃ SỬ                         QUÂNSỰ                    CHUYỆN LẠ              WEB                                    

Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2013

Gia Cát Lượng: Những lời “sấm truyền”

   


[Phong thuỷ khai vận] Với người Trung Quốc, quân sư Khổng Minh là một nhà tiên tri vĩ đại. Tài tiên đoán, liệu sự như thần của ông khiến hậu thế phải nghiêng mình thán phục.

Trí tuệ tinh thông, tài năng lỗi lạc lẫn lòng trung hiếu sắt son của Khổng Minh luôn được hậu thế tôn vinh, trân trọng. Sử sách ghi nhận ông là một nhà chính trị, quân sự, chiến lược, ngoại giao tài ba, kiệt xuất thời Tam quốc. 

Theo Bách kho toàn thư mở, Gia Cát Lượng (181 - 234), tự là Khổng Minh, hiệu Ngọa Long tiên sinh. Ông là quân sư xuất chúng của Lưu Bị nước Thục, thời hậu Hán. Gia Cát Lượng quê tại Dương Đô (nay thuộc huyện Nghi Nam, tỉnh Sơn Đông). Không chỉ kiệt xuất trong lĩnh vực quân sự, chính trị, Khổng Minh còn là một học giả và nhà phát minh kỹ thuật đại tài. Ông đã sáng tạo ra các chiến thuật quân sự nổi tiếng như: Bát trận đồ (Hình vẽ tám trận), Liên nỏ (Nỏ Liên Châu, tên bắn ra liên tục), Mộc ngưu lưu mã (trâu gỗ ngựa máy). Tương truyền, chính vị quân sư này là nhà phát minh ra đèn trời (Khổng Minh đăng - một dạng khinh khí cầu cỡ nhỏ) và món màn thầu nổi tiếng của Trung Quốc.

Cho tới nay, những lời tiên tri của Gia Cát Lượng trong "Mã Tiền Khóa" vẫn là một bí ẩn thú vị với hậu thế.

Liệu sự như thần 

Tài năng của Khổng Minh đâu chỉ dừng ở những lĩnh vực ấy. Với người Trung Quốc, Gia Cát Lượng còn là nhà tiên tri vô cùng vĩ đại. Ông được mệnh danh là người “trên thông thiên văn, dưới tường địa lý”, có tài tiên đoán mọi việc cực chuẩn xác.

Nói về kỳ tài "liệu sự như thần" của Khổng Minh, dân gian Trung Quốc hãy còn lưu truyền một câu chuyện khá thú vị.


Tương truyền, trước lúc lâm chung, Gia Cát Lượng dặn dò con cháu: “Sau khi ta chết, trong số các con sẽ gặp phải đại họa chết người. Tới lúc ấy, hãy dỡ nhà, lấy từ trong tường ra một bọc giấy, trong đó có cách cứu mạng”. Sau khi ông qua đời, Tư Mã Viêm lên ngôi hoàng đế. Nghe tin trong số quan quân triều đình có viên tướng quân là hậu thế của Gia Cát Lượng, Viêm bèn nghĩ cách trừng trị người này. 

Một hôm, Tư Mã Viêm tìm cớ định tội chết cho viên tướng nhà Gia Cát. Trên Kim điện, Viêm cất lời hỏi: “Trước khi chết, tổ phụ nhà ngươi đã nói những gì?”. Kẻ “tội đồ” bèn thật thà truyền đạt tới vua lời dặn dò của Gia Cát Lượng. Nghe thấy vậy, Tư Mã Viêm bèn ra lệnh cho quân lính dỡ nhà, lấy bọc giấy ra xem. Bên trong chỉ có một phong thư kín, phía trên viết rằng: “Ngộ hoàng nhi khai” (nghĩa là đúng hoàng thượng mới mở ra xem). Đám binh sĩ bèn dâng thư lên vua. Trong thư có mấy chữ: “Xin lùi ba bước”. Tư Mã Viêm lập tức làm theo. Vừa đứng vững đã nghe thấy một tiếng “rầm”, chiếc xà rơi thẳng xuống chỗ vua ngồi, khiến bàn ghế tan tành. Viêm trông thấy vậy mà sợ hãi lạnh người, rồi lại xem tiếp những dòng ở cuối thư: “Ta cứu mạng ngươi, ngươi hãy giữ lại mạng sống của con cháu ta”. Xem xong thư, Tư Mã Viêm thầm thán phục tài tiên đoán như thần của Gia Cát Khổng Minh rồi ra lệnh phục nguyên chức cho vị tướng quân này. 

Còn theo Bách Khoa toàn thư mở, Khổng Minh bỗng lâm bệnh nặng khi ra Kỳ Sơn lần thứ 6. Biết mệnh sắp tàn, ông cho gọi tướng tài Khương Duy vào truyền thụ 24 thiên binh thư của mình. Gia Cát Lượng còn cẩn thận dặn dò các tướng quân phải nêu cao cảnh giác, đề phòng mối nguy quân Ngụy tấn công, Ngụy Diên trở mặt làm phản rồi bày cho diệu kế đối phó. 

Quả nhiên, mọi lo lắng, tiên liệu của ông trước khi qua đời đều thành hiện thực. Ngụy Diên tráo trở làm phản, nhưng vì nghe lời căn dặn của quân sư, Mã Đại đã chém chết Diên. 

Lại nói, khi Tư Mã Ý hô quân tới đánh, bên Thục bèn đẩy xe có tượng gỗ của Khổng Minh ra trận, khiến Ý hoang mang lo sợ rồi tháo chạy. Nhờ đó, quân Thục bình an vô sự rút về Thành Đô. 

Thêm lần nữa, tài tiên liệu hơn người của Gia Cát Lượng đã bảo toàn mạng sống cho quân binh và cứu vãn thế sự cho cả vương triều. Để tưởng nhớ công lao to lớn của ông, dân gian lưu truyền câu nói: “Gia Cát chết vẫn đuổi được Trọng Đạt sống”. 

Bí ẩn lời “sấm truyền” trong “Mã Tiền Khóa”

“Mã Tiền Khóa” được cho là một tác phẩm kiệt xuất của Gia Cát Lượng. Tương truyền, nhà quân sư trong lúc nhàn nhã việc quân đã hoàn thành “Mã Tiền Khóa” với những tiên đoán như thần về việc đại sự trong thiên hạ. Nếu giải nghĩa về mặt câu chữ, “Mã Tiền Khóa” ý chỉ việc gieo quẻ bói trước ngựa.


So với những ngự ngôn khác trong lịch sử Trung Quốc, “Mã Tiền Khóa” của Gia Cát Lượng được đánh giá là dễ phá dịch hơn. Tác phẩm này gồm 14 khóa, mỗi khóa có nội dung dự đoán về một triều đại Trung Quốc và các khóa tuân theo tuần tự diễn tiến của lịch sử. 

Theo những chiêm nghiệm của hậu thế, lời tiên đoán trong các khóa của Gia Cát Lượng vô cùng linh ứng và chính xác. Ví như khóa thứ nhất:

Vô lực hồi thiên
Cúc cung tận tụy 
Âm cư dương phất 
Bát thiên nữ quỷ

Nhiều quan điểm cho rằng, khóa này chính là lời dự ngôn về bản thân Gia Cát Lượng và thế sự thời Tam Quốc. Sớm biết vận mệnh nhà Hán đã tới hồi tận, mọi nỗ lực chỉ là “vô lực hồi thiên”, nhưng ông vẫn tận tâm tận sức phò tá Thục Hán, không phụ nghĩa bạc tình với chủ nhân Lưu Bị.

Tổng cộng, Khổng Minh đã 5 lần Bắc phạt Tào Ngụy để khôi phục trung nguyên, tái hưng giang sơn Đại Hán. Trong “Xuất Sư Biểu”, ông cũng bày tỏ nỗ lực tâm huyết tái hưng Hán thất của mình: “Cúc cung tận tụy, tử nhi hậu dĩ” (ý chỉ: Cúc cung tận tụy tới chết mới thôi). Vậy nên, hai câu trước: “Vô lực hồi thiên, Cúc cung tận tụy” là viết cho chính mình. Trong hai câu sau: “Âm cư dương phất, Bát thiên nữ quỷ”, câu “Bát thiên nữ quỷ” được xem như một câu chơi chữ. Chữ “bát” (八) thêm chữ “thiên” (千) rồi thêm chữ “nữ” (女) và chữ “quỷ” (鬼) hợp lại thành chữ “Ngụy” (魏). Điều ấy có nghĩa, nhà Thục Hán cuối cùng sẽ bị Ngụy Quốc tiêu diệt. Còn ở khóa thứ hai:
Hỏa thượng hữu hỏa
Quang chúc trung thổ
Xưng danh bất chính 
Giang Đông hữu hổ

là những dự ngôn của Khổng Minh về Tấn triều. Thực tế lịch sử cho thấy, gia tộc Tư Mã nắm đại quyền trong triều đình nhà Ngụy thời Tam Quốc, trong đó, Tư Mã Chiêu trở thành kẻ thống trị thực quyền. Tới năm 265, Chiêu qua đời, con là Tư Mã Viêm lập tức bắt Hoàng đế cuối cùng của Tào Ngụy là Tào Hoán thoái vị, giao lại triều đình cho mình. Viêm tức vị hoàng đế, lập ra triều Tây Tấn trong lịch sử phong kiến Trung Quốc.

Nếu vận vào khóa thứ hai trong “Mã Tiền Khóa” của Gia Cát Lượng, có thể thấy, nhà quân sư đại tài đã tiên đoán như thần. Câu: “Hỏa thượng hữu hỏa” tức hai chữ “hỏa” (火) thành chữ “Viêm” (炎), ý chỉ Tư Mã Viêm. Tới năm 280, quân Tấn tiến đánh nhà Ngô, bắt sống Tôn Hạo và tiêu diệt nước Ngô, thống nhất thiên hạ. Nên câu thứ hai: “Quang chúc trung thổ” (ý chỉ soi sáng cả vùng trung thổ) là chỉ việc này. Nhưng vì Tư Mã Viêm lên ngôi, lập ra triều Tấn thực chất là cướp đoạt ngôi vị từ Tào Ngụy, nên đúng là “Xưng danh bất chính” như lời chiêm nghiệm trong khóa thứ hai này. 

Tới năm 317, Tư Mã Duệ lên ngôi, đóng đô ở Kiến Khang mà sử sách gọi là Nguyên đế của triều Đông Tấn. Vùng Kiến Khang bấy giờ thuộc Giang Đông. Sự kiện ấy cũng trùng khớp với câu cuối: “Giang Đông hữu hổ”, ý chỉ Giang Đông có hổ và “hổ” ở đây chính là Tư Mã Duệ. 

Các khóa tiếp theo đều linh ứng với những triều đại lịch sử khác nhau của Trung Quốc, như khóa thứ ba là những dự ngôn về giai đoạn Bát Vương chi loạn, Ngũ hồ thập quốc và Nam Bắc Triều; khóa thứ tư tiên đoán về đại sự nhà Đường, khóa thứ năm là lời “sấm truyền” về thời Ngũ Đại, khóa sáu ứng với triều Tống, khóa bảy ứng với triều Nguyên, khóa tám – triều Minh và khóa chín – triều Thanh. Tới khóa 10:

Thỉ hậu ngưu tiền
Thiên nhân nhất khẩu
Ngũ nhị đảo trí
Bằng lai vô cữu

là những dự ngôn của Gia Cát Lượng về sự ra đời của Trung Hoa Dân quốc. Ngày 13/2/1912, hoàng đế nhà Thanh chính thức thoái vị, vương triều Đại Thanh hoàn toàn sụp đổ. Câu: “Thỉ hậu ngưu tiền” (tức: Lợn sau trâu trước) chính là chỉ sự kiện này. Năm 1911 là năm Tân Hợi, tức năm lợn. Còn năm 1913 là năm con trâu. Trong khi đó, sự thống trị của vương triều nhà Thanh kết thúc vào năm 1912, chính là năm ở giữa: “Thỉ hậu ngưu tiền” (Lợn sau trâu trước). 

Riêng câu: “Thiên nhân nhất khẩu” (tức cả nghìn người một miệng) là một câu chơi chữ. Ba chữ “thiên” (千), “nhân” (人), “khẩu” (口) khi hợp lại sẽ thành chữ “hòa” (和) trong từ “Cộng hòa” (共和). 

“Ngũ nhị đảo trí” (tức năm và hai đảo ngược vị trí) ý chỉ chế độ và quốc thể của Trung Hoa Dân Quốc: mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Nguyên thủ quốc gia được gọi là Tổng thống và chức vụ này cũng là do dân bầu. Trước kia có câu: “Cửu ngũ chí tôn”, “ngũ” ở đây ý chỉ ngôi vua. Vì vậy, câu “Ngũ nhị đảo trí” là chỉ chế độ nhà nước do dân làm chủ, dân nắm quyền. 
Theo Minh Hạnh - Kienthuc
-------------
7 cách nhìn người của Gia Cát Lượng

Thuật xem tướng không chỉ xem nhân diện mà còn coi trọng khí phách, tài năng, đạo đức. Nhưng mọi thứ không thể tự nhiên mà có, thông thường phải tu dưỡng, rèn luyện mà thành. Một anh hùng là phải có đủ “tài, đức, trí, dũng, chính, tín”.

“Tri nhân, tri diện, bất tri tâm”, nếu gặp một người, bạn có thể xét diện mạo bên ngoài, dựa vào thuật xem tướng biết được một phần tính cách, cũng không thể nào biết được tâm, đức, tài năng, trí tuệ thật sự của người đó.

Khi còn ở núi Ngọa Long, ông đã viết ra bộ sách “Tướng Uyên” trong đó có đưa ra nhận xét về tính cách con người như sau: “Tính người thật khó hiểu. Dung mạo bất nhất, hành động trăm ngàn lối. Kẻ trông hiền lành nhu thuận mà vô đạo, kẻ bề ngoài cung kính mà trong lòng trí trá vô lễ. Kẻ trông rất hùng dũng nhưng lại nhát sợ. Kẻ có vẻ thật tận lực mà rất bất trung”.

Vì vậy, để giúp các bậc “chính nhân quân tử” hiểu thấu được lòng người, Gia Cát Lượng đã viết riêng một chương có tên là “Tri nhân” (hiểu người) cho bộ sách Tướng Uyên của mình trong đó ông đưa ra 7 cách để hiểu được lòng người khác như sau:
  1. Đem điều phải lẽ trái hỏi họ để biết “chí hướng”.
  2. Lấy lý luận dồn họ vào thế bí để biết “biến thái”.
  3. Lấy mưu trí trị họ để trông thấy “kiến thức”.
  4. Nói cho họ những nỗi khó khăn để xét “đức dũng”.
  5. Cho họ uống rượu say để dò “tâm tính”.
  6. Đưa họ vào lợi lộc để biết tấm lòng “liêm chính”.
  7. Hẹn công việc với họ để đo “chữ tín”.
Nhờ những phép thử rất hữu hiệu này mà Gia Cát Lượng đã giúp cho Thục vương Lưu Bị chọn lựa ra những người có đủ cả tài, đức, trí, dũng, chính, tín; xây dựng nên triều đại nhà Thục hùng mạnh, sánh ngang với hai cường quốc bên cạnh là Ngụy và Ngô.

Với triết lý trong cách hiểu lòng người khác của Gia Cát Lượng vẫn mang đầy tính thực tiễn giúp cho không ít nhà lãnh đạo thành công trong việc hiểu người và dùng người.


Thiên hạ vẫn đồn đại, Gia Cát Lượng tài trí hơn người, tuấn tú khôi ngô nhưng lại yêu và lấy người vợ tên là Hoàng Nguyệt Anh có dung nhan vô cùng xấu xí...

Nên duyên nhờ kiên trì, tài trí và sự đức độ

Ông được hậu thế muôn đời nhắc nhớ với một niềm kính tôn tột bậc không chỉ bởi trí tuệ và tài năng lỗi lạc, mà còn vì lòng trung nghĩa sắt son.

Gia Cát Lượng sinh vào thời loạn nên ngay từ khi còn thiếu thời, ông đã cùng thúc phụ chạy loạn tới Tương Dương, sống cảnh hàn vi, ẩn dật nhưng vẫn chú tâm dùi mài kinh sử, đau đáu một niềm với giang sơn xã tắc.

Là người ham học hỏi, nghe nói ở Ngọa Long Cương có viên ngoại họ Hoàng, trong nhà cất nhiều sách quý, ông bèn dời tới đây, dựng lều tranh ở gần để tìm dịp hội kiến. Thêm vào đó, tin đồn nhà họ Hoàng có cô con gái tên Hoàng Nguyệt Anh, nức tiếng khắp vùng là một tài nữ càng thôi thúc ông đến để có cơ hội gặp gỡ, kết giao với người con gái đó.

Biết được ý định của Gia Cát Lượng, Hoàng viên ngoại ra sức ngăn cản mà không cho biết lý do. Trước tình hình đó, Gia Cát Lượng không hề nản lòng, ông vẫn muốn dùng tài năng và học vấn của mình để thuyết phục Hoàng viên ngoại tác hợp cho mình và cô con gái nên duyên.

Thế nhưng, một điều vô cùng bất ngờ xảy ra đó là Hoàng viên ngoại tiết lộ, con gái ông có dung mạo vô cùng xấu xí, rất khó coi, rồi khuyên Gia Cát Lượng nên tìm ý trung nhân tài sắc vẹn toàn. Kể từ đó, thiên hạ rộ lời đồn thổi về nhan sắc ma chê quỷ hờn của tài nữ Nguyệt Anh. Lại có sách kể rằng, tiểu thư họ Hoàng tuy hiền dịu, nết na, trí tuệ vẹn toàn, nhưng dáng vẻ thô kệch, xấu đến độ "ma chê, quỳ hờn"...
Gạt bỏ những đồn đó, Gia Cát Lượng vẫn hạ quyết tâm tới nhà họ Hoàng cầu hôn người con gái kỳ tài. Trước sự nhiệt tình của Gia Cát Lượng, để thử thách ông, Hoàng Nguyệt Anh đưa ra hàng loạt câu hỏi để chứng thực tài năng đức độ lẫn trí tuệ uyên thâm của người đến hỏi cưới mình.

Với sự thông minh và học thức yên thâm, để chiếm được trái tim người phụ nữ tài giỏi này, Gia Cát Lượng dốc hết tâm lực, tài trí, cuối cùng cũng thuyết phục được thiên kim tiểu thư họ Hoàng.

Tuy nhiên cũng theo một ghi chép khác thì câu chuyện Hoàng viên ngoại loan tin con gái mình xấu xí, thô kệch chỉ cốt để thử thách lòng kiên trì và bản lĩnh cương nghị của Gia Cát Lượng. Thực tế, Hoàng Nguyệt Anh là một cô gái tài sắc vẹn toàn.

Chuyện tình sâu nặng

Cho tới ngày nay, giai thoại thú vị về chuyện tình của Gia Cát Lượng và Hoàng Nguyệt Anh được ghi chép và kể lại khá nhiều. Kể cả sự thực về nhan sắc của Nguyệt Anh vẫn còn khiến hậu thế phải tranh cãi.

Thế nhưng, có một điều bất biến và lưu truyền cho hậu thế noi gương đó chính là tình nghĩa vợ chồng chung thủy từ thuở hàn vi tới ngày nhung gấm của Gia Cát Lượng và Hoàng Nguyệt Anh. Trong đó, câu chuyện chiếc quạt lông vũ mà Khổng Minh sau này vẫn mang bên người là minh chứng điển hình cho mối tình sâu nặng của họ.

Tương truyền, vì ham mê võ nghệ, Hoàng Nguyệt Anh theo học danh sư trên núi. Sau khi hoàn thành việc học võ, bà được vị sư phụ tặng cho chiếc quạt lông vũ, cùng với hai chữ “minh”, “lượng” và dặn dò: “Tên hai chữ này chính là đức lang quân như ý của con”.

Khi Gia Cát Lượng tới cầu hôn và đã vượt qua thử thách, Nguyệt Anh liền mang tặng ông chiếc quạt này rồi hỏi có biết lý do tại sao nàng lại tặng cho ông một chiếc quạt lông vũ. Gia Cát Lượng điềm tĩnh trả lời: “Phải chăng là lễ khinh tình nghĩa trọng (ý chỉ của ít lòng nhiều)?”, nhưng ngay sau câu trả lời của ông thì Hoàng Nguyệt Anh lại hỏi: “Liệu còn nghĩa thứ hai?”.

Nhưng Gia Cát Lượng suy nghĩ mãi vẫn không tìm ra lời đáp, Nguyệt Anh bèn giảng giải: “Khi nãy trong lúc chàng đàm đạo thiên hạ đại sự cùng cha thiếp, thần thái người rạng rỡ, khí vũ hiên ngang, nhưng nói tới Tào Tháo, Tôn Quyền thì ưu tư lồ lộ ra ngoài. Thiếp tặng tiên sinh chiếc quạt này là để ngài che đi gương mặt lúc ấy”.

Qua câu nói đầy ngụ ý của Hoàng Nguyệt Anh, Gia Cát Lượng có thể thấy được sự thấu hiểu và tâm ý của bà dành cho chồng. Hoàng Nguyệt Anh không muốn chồng mưu sự bất thành vì dao động tình cảm, và món quà bà tặng sẽ như thứ bảo bối giúp ông che giấu cảm xúc, suy nghĩ thực sự trước đối phương.

Sau khi kết duyên cùng tài nữ Nguyệt Anh, quạt lông vũ trở thành vật bất ly thân với Khổng Minh - Gia Cát Lượng. Ông luôn coi nó như thứ báu vật luôn phải nâng niu trân trọng. Chiếc quạt cùng áo bát quái và người vợ gắn bó từ thuở hàn vi vẫn là những bảo vật đáng giá nhất mà Gia Cát Lượng luôn gìn giữ bên mình.



Gia Cát Lượng là một trong 10 Đại thừa tướng của Trung Quốc, tài năng của ông được người đời sau yêu mến, kính trọng.

Khi nói đến tài năng và lòng trung thành, người ta thường nói đến chuyện Vũ Hầu. Tư Mã Đức Tháo trong Tam Quốc đã nhận xét về Gia Cát Lượng như sau: "Nếu được một trong hai người Ngọa Long (tức Khổng Minh) hoặc Phụng Sồ (tức Bàng Thống) thì có thể định hưng được thiên hạ. Ngay cả các tướng nhà Ngụy như Tư Mã Ý cũng rất phục tài của Gia Cát Lượng. Tướng Ngụy là Chung Hội lúc đem quân đi đánh nước Thục, khi qua núi Định Quân có đến mộ bái kiến Gia Cát Lượng. Người đời sau có câu: "Vạn đại quân sư Gia Cát Lượng", để nói đến tài năng của Gia Cát Lượng.

Chưa tham gia"chính trường" đã biết đất nước chia ba

Gia Cát Lượng được sinh ra trong một gia đình gia giáo, cả ba anh em trai đều được học hành đến nơi đến chốn, vì vậy mà Gia Cát Lượng có điều kiện học hành và học rất giỏi. Cuối đời Đông Hán, mâu thuẫn xã hội ngày càng quyết liệt hơn. Lúc bấy giờ, Lưu Bị, tự là Huyền Đức, xuất thân từ tông thất của nhà Tây Hán, đứng trước tình hình xã tắc lúc đó, đã có ý chí phục hưng nhà Hán, nhưng việc này cần có người tài giỏi giúp.

Lưu Bị được Tư Mã Huy và Từ Thứ giới thiệu Gia Cát Lượng. Ông đã cùng với hai người em kết nghĩa là Quan Vân Trường và Trương Phi, ba lần đến lều tranh tìm Gia Cát Lượng. Điều này vẫn được nhắc đến như sự trân trọng dành cho quân sư Khổng Minh Tuy chưa hoạt động chính trị nhưng trong nhà của Gia Cát Lượng đã có một tấm bản đồ, khi gặp Lưu Bị, Gia Cát Lượng đã nói với Lưu Bị rằng, về sau này thiên hạ sẽ chia ba và cũng từ đó, Gia Cát Lượng đi theo làm quân sư cho Lưu Bị.

Lần đầu tiên Gia Cát Lượng cầm quân đã thắng lớn ở Gò bác vọng, trận này ông đã dùng hỏa công, tiêu diệt được nhiều quân cuả Tào Tháo. Sau đó Gia Cát Lượng còn giúp Lưu Bị cùng với Tôn Quyền đánh bại Tào Tháo ở trận Xích Bích năm 208, giúp Lưu Bị lấy Kinh Châu, định Tây Xuyên, dựng nước ở đất Thục, cùng với Ngụy ở phía bắc, Ngô ở phía Đông hình thành thế chân vạc. Đến năm 221, Lưu Bị lên ngôi hoàng đế, Gia Cát Lượng giữ chức Thừa tướng, hết lòng khôi phục lại cơ nghiệp nhà Hán.

Với vai trò quân sư và điều binh, khiển tướng của Gia Cát Lượng, nước Thục dần dần mạnh lên. Sau khi trừ bỏ được những lo lắng trong nước, Gia Cát Lượng đã đem quân xuống phía Nam để thu phục dân bản địa. Gia Cát Lượng ra quân không lâu đã bắt sống được Mạnh Hoạch, một thủ lĩnh có tiếng. Ví dụ nổi tiếng về việc Gia Cát Lượng "chiếm lòng người" chính là việc 7 lần bắt, 7 lần tha Mạnh Hoạch, cho đến khi Mạnh Hoạch thực sự tâm phục, khẩu phục mới thôi.

Gia Cát Lượng 6 lần ra Kỳ Sơn Bắc phạt cả thảy là 7 năm. Mấy lần xuất quân đều chưa giành được thắng lợi hoàn toàn do Lý Nghiêm trễ nải cấp lương nên giả truyền thánh chỉ, hai lần khác do Lưu Thiện nghe lời gièm pha mà nửa chừng hạ chiếu lui quân. Tháng 8 năm 234, trước khi mất, Gia Cát Lượng đã lập đàn để cầu thọ, nhưng số mệnh ông đã hết. Đêm hôm đó, Gia Cát Lượng ngồi trên xe, sai người đẩy ra ngoài nhìn trời đất, đau buồn thốt lên: "Từ nay ta không còn được ra trận đánh giặc nữa, trời xanh thăm thẳm giận này biết bao giờ mới nguôi". Gia Cát Lượng mất năm 234, hưởng thọ 54 tuổi. Ước nguyện của ông trước khi ra khỏi lều tranh là thành công sẽ từ quan trở về quê cũ hàng ngày ngoài việc lo canh tác, an hưởng tuổi già, thỉnh thoảng cũng đi du ngoạn với bạn bè, hàng ngày đọc sách, xong rồi ngắm cảnh và thư giãn tinh thần. Chính vì vậy mà ông đã dặn em trai của mình là Gia Cát Quan, hãy chăm lo việc cấy cày, để sau này ông sẽ trở về. Nhưng cuối cùng ước nguyện đó của hai ông đã không thực hiện được.

Sau khi chết, Gia Cát Lượng được phong tặng là Trung Vũ Hầu người đời thường gọi là Gia Cát Vũ Hầu. Ông được chôn tại ngọn núi Định Quân ở vùng Hán Trung. Ông mất mà vẫn không trung hưng được nhà Hán, nước vẫn ở thế chân vạc chia ba. Ba mươi năm sau khi ông mất (năm 263), Lưu Thiện đầu hàng nước Ngụy, nước Thục bị diệt vong.

Gia Cát Vũ Hầu trong quan niệm Đông Phương về sao tốt, sao xấu

Theo lá số tử vi của người phương Đông, thì Gia Cát Lượng là người mệnh vô chính diệu (cung mệnh không có sao chính tinh thủ chiếu). Những người mệnh vô chính diệu thì phải xét đến sự góp mặt của những sao không vong (Tuần, Triệt, Địa Không, Thiên Không) thì mới làm rõ được tính cách của bản mệnh. Gia Cát Lượng có sao Thái Âm, miếu địa tại cung quan và sao Thái Dương vương địa ở cung tài tam chiếu, đây được gọi là cách nhật nguyệt định minh (hoặc nhật nguyệt chiếu vào hư vô cách). Điều này chứng tỏ rằng, Gia Cát Lượng có chân mệnh là người thông minh, cơ trí.

Nếu xét về các sao không vong, thì Gia Cát Lượng là người vô chính diệu đắc nhị không (Tuần và Địa Không). Mặt khác, cung phúc đức của Gia Cát Lượng vô chính diệu lại có sát tinh là Địa Kiếp, chính vì vậy mà tuổi thọ của ông không được cao (ông chỉ thọ 54 tuổi). Cung mệnh của Gia Cát Lượng có sao Hữu Bật Tả Phù, cộng với Long Trì Phượng Các ở cung Thiên Di và hóa quyền tại cung tài, nên Gia Cát Lượng là người tinh thông nhiều vấn đề và có uy quyền thực sự, có tài thuyết phục người khác. Cung Di của Gia Cát Lượng có sao Thiên Đồng (đây là sao nói về di chuyển và dời đổi), nên có thể khẳng định ông là người rời quê hương lập nghiệp xa xứ.

Gia Cát Lượng là người mệnh Mộc. Có sao mệnh chủ là Văn Các, đây là sao nói về khả năng sư phạm tài ba, cộng với sao điếu khách ở cung mệnh, có thể khẳng định ông là người có tài ăn nói, tài về diễn thuyết, tuy nhiên cung của ông là Kim, khắc với mệnh là Mộc nên không thể thọ lâu được. Chính vì Mộc với Hỏa và Thủy nên Gia Cát Lượng là người sử dụng hóa công rất giỏi.

Tại cung quan của Gia Cát Lượng có sao Thái Âm miếu địa, lại có Thiên Cơ vượng địa xung chiếu cộng với các sao Quốc ấn thiên mã, điều này khẳng định Gia Cát Lượng là người có công danh cao và sớm thành danh. Dưới thời nhà Thục (221- 263), Gia Cát Lượng giữ chức quân sư, nhưng thực chất là thừa tướng, chỉ sau vua, nắm mọi quyền hành của nhà Thục Hán. Gia Cát Lượng còn là người có tài dùng binh, vì xung chiếu với cung quan lộc, ông có sao Quốc ấn, Tướng Quân, đấy là những sao thể hiện quyết đoán của những vị tướng.

Ở cung Nô Bộc của ông có sao Văn Xương, Thiên Hỷ, điều này cho thấy dưới quyền của Gia Cát Lượng có nhiều tướng lĩnh tài ba phò trợ cho ông gây dựng nghiệp lớn. Tuy nhiên, cung ở cung Nô Bộc lại có những sao xấu như Thiên Hình, Hóa Kỵ và Tuần nên ông cũng bị kẻ dưới trở cờ làm phản không tuân lệnh (với như Mã Tốc, Ngụy Diên).

Không Minh cực kỳ giỏi về thiên văn và các tướng số cũng như phong thủy, nên trong những trận đánh cụ thể, ông đã bài binh bố trận chặt chẽ để giành những thắng lợi huy hoàng (ví dụ trận Xích Bích, Tân Dã, Bái Vọng...). Khi đó, theo Lưu Bị buổi ban đầu, đất và quân không có nhiều, Gia Cát Lượng đã biết xoay chuyển tình thế, vào đất Tây Thục. Dựa vào vùng hiểm trở của đất ấy tạo ra thế chân vạc của thời Tam Quốc. Tuy nhiên, trong thuật dùng binh có những trận đánh vì đại cuộc, Gia Cát Lượng đã tiêu diệt rất nhiều sinh linh. Chính vì vậy mà tuổi thọ của Gia Cát Lượng không cao được. Là người hiểu thời thế, ông biết là vận mệnh của nhà Hán đã suy nhưng vẫn một lòng phò tá Lưu Bị dựng đại nghiệp, mặc dù biết thiên thời không đứng về phía mình.

Trong cuộc đời chinh chiến 27 năm, Gia Cát Lượng đã dùng tài trí của mình xoay đổi càn khôn, chuyển bại thành thắng, nhưng đối với vận mệnh của bản thân thì thường không xoay đổi được.

Trước khi mất, khi xem Thiên tướng, ông cũng biết được, vận mình đã hết nhưng vì muốn sống thêm 12 năm (1 giáp) nữa để phò tự nhà Hán thống nhất thiên hạ, nên Gia Cát Lượng đã đăng đàn, xin tuổi thọ, nhưng đúng vào thời khắc cuối cùng thì ngọn nến bản mệnh bị tắt do Ngụy Diên chạy vào trướng bị gió thổi vào, vì vậy mà ông không thể sống được nữa.

Không tránh được mệnh

Trong năm Giáp Dần 234, sao Lưu Thiên hư chiếu ở cung bản mệnh, Lưu Kinh dương chiếu ở cung di, đây đều là những sao xấu ảnh hưởng trực tiếp đến bản mệnh. Cung Di của Gia Cát Lượng còn có sao Tuần và Bệnh Phù, điều này nói lên ông đã bị mắc bệnh một thời gian dài trước khi mất. Ở cung Thân (bản thân) có Lưu Thiên Khốc và Lưu Đà là những sao hàng lục sát rất xấu trong hàng bản mệnh. Cộng với cung phúc đức của ông đã xấu, nên dù tài giỏi ông cũng không tránh được mệnh của sao mình.

Gia Cát Lượng và người vợ “nhan sắc bí ẩn”

Thiên hạ vẫn đồn đại, Gia Cát Lượng tài trí hơn người, tuấn tú khôi ngô nhưng lại yêu và lấy người vợ tên là Hoàng Nguyệt Anh có dung nhan vô cùng xấu xí...

Nên duyên nhờ kiên trì, tài trí và sự đức độ

Gia Cát Lượng (181 - 234), tự Khổng Minh, vốn là một nhà chính trị, quân sự, chiến lược, ngoại giao kiệt xuất thời Tam quốc. Ông được hậu thế muôn đời nhắc nhớ với một niềm kính tôn tột bậc không chỉ bởi trí tuệ và tài năng lỗi lạc, mà còn vì lòng trung nghĩa sắt son.

Gia Cát Lượng sinh vào thời loạn nên ngay từ khi còn thiếu thời, ông đã cùng thúc phụ chạy loạn tới Tương Dương, sống cảnh hàn vi, ẩn dật nhưng vẫn chú tâm dùi mài kinh sử, đau đáu một niềm với giang sơn xã tắc.

Là người ham học hỏi, nghe nói ở Ngọa Long Cương có viên ngoại họ Hoàng, trong nhà cất nhiều sách quý, ông bèn dời tới đây, dựng lều tranh ở gần để tìm dịp hội kiến. Thêm vào đó, tin đồn nhà họ Hoàng có cô con gái tên Hoàng Nguyệt Anh, nức tiếng khắp vùng là một tài nữ càng thôi thúc ông đến để có cơ hội gặp gỡ, kết giao với người con gái đó.

Biết được ý định của Gia Cát Lượng, Hoàng viên ngoại ra sức ngăn cản mà không cho biết lý do. Trước tình hình đó, Gia Cát Lượng không hề nản lòng, ông vẫn muốn dùng tài năng và học vấn của mình để thuyết phục Hoàng viên ngoại tác hợp cho mình và cô con gái nên duyên.

Thế nhưng, một điều vô cùng bất ngờ xảy ra đó là Hoàng viên ngoại tiết lộ, con gái ông có dung mạo vô cùng xấu xí, rất khó coi, rồi khuyên Gia Cát Lượng nên tìm ý trung nhân tài sắc vẹn toàn. Kể từ đó, thiên hạ rộ lời đồn thổi về nhan sắc ma chê quỷ hờn của tài nữ Nguyệt Anh. Lại có sách kể rằng, tiểu thư họ Hoàng tuy hiền dịu, nết na, trí tuệ vẹn toàn, nhưng dáng vẻ thô kệch, xấu đến độ "ma chê, quỳ hờn"...
Gia Cát Lượng và người vợ “nhan sắc bí ẩn”

Gạt bỏ những đồn đó, Gia Cát Lượng vẫn hạ quyết tâm tới nhà họ Hoàng cầu hôn người con gái kỳ tài. Trước sự nhiệt tình của Gia Cát Lượng, để thử thách ông, Hoàng Nguyệt Anh đưa ra hàng loạt câu hỏi để chứng thực tài năng đức độ lẫn trí tuệ uyên thâm của người đến hỏi cưới mình.

Với sự thông minh và học thức yên thâm, để chiếm được trái tim người phụ nữ tài giỏi này, Gia Cát Lượng dốc hết tâm lực, tài trí, cuối cùng cũng thuyết phục được thiên kim tiểu thư họ Hoàng.

Tuy nhiên cũng theo một ghi chép khác thì câu chuyện Hoàng viên ngoại loan tin con gái mình xấu xí, thô kệch chỉ cốt để thử thách lòng kiên trì và bản lĩnh cương nghị của Gia Cát Lượng. Thực tế, Hoàng Nguyệt Anh là một cô gái tài sắc vẹn toàn.

Chuyện tình sâu nặng

Cho tới ngày nay, giai thoại thú vị về chuyện tình của Gia Cát Lượng và Hoàng Nguyệt Anh được ghi chép và kể lại khá nhiều. Kể cả sự thực về nhan sắc của Nguyệt Anh vẫn còn khiến hậu thế phải tranh cãi.
Thế nhưng, có một điều bất biến và lưu truyền cho hậu thế noi gương đó chính là tình nghĩa vợ chồng chung thủy từ thuở hàn vi tới ngày nhung gấm của Gia Cát Lượng và Hoàng Nguyệt Anh. Trong đó, câu chuyện chiếc quạt lông vũ mà Khổng Minh sau này vẫn mang bên người là minh chứng điển hình cho mối tình sâu nặng của họ.
Tương truyền, vì ham mê võ nghệ, Hoàng Nguyệt Anh theo học danh sư trên núi. Sau khi hoàn thành việc học võ, bà được vị sư phụ tặng cho chiếc quạt lông vũ, cùng với hai chữ “minh”, “lượng” và dặn dò: “Tên hai chữ này chính là đức lang quân như ý của con”.
Khi Gia Cát Lượng tới cầu hôn và đã vượt qua thử thách, Nguyệt Anh liền mang tặng ông chiếc quạt này rồi hỏi có biết lý do tại sao nàng lại tặng cho ông một chiếc quạt lông vũ. Gia Cát Lượng điềm tĩnh trả lời: “Phải chăng là lễ khinh tình nghĩa trọng (ý chỉ của ít lòng nhiều)?”, nhưng ngay sau câu trả lời của ông thì Hoàng Nguyệt Anh lại hỏi: “Liệu còn nghĩa thứ hai?”.
Nhưng Gia Cát Lượng suy nghĩ mãi vẫn không tìm ra lời đáp, Nguyệt Anh bèn giảng giải: “Khi nãy trong lúc chàng đàm đạo thiên hạ đại sự cùng cha thiếp, thần thái người rạng rỡ, khí vũ hiên ngang, nhưng nói tới Tào Tháo, Tôn Quyền thì ưu tư lồ lộ ra ngoài. Thiếp tặng tiên sinh chiếc quạt này là để ngài che đi gương mặt lúc ấy”.
Qua câu nói đầy ngụ ý của Hoàng Nguyệt Anh, Gia Cát Lượng có thể thấy được sự thấu hiểu và tâm ý của bà dành cho chồng. Hoàng Nguyệt Anh không muốn chồng mưu sự bất thành vì dao động tình cảm, và món quà bà tặng sẽ như thứ bảo bối giúp ông che giấu cảm xúc, suy nghĩ thực sự trước đối phương.
Sau khi kết duyên cùng tài nữ Nguyệt Anh, quạt lông vũ trở thành vật bất ly thân với Khổng Minh - Gia Cát Lượng. Ông luôn coi nó như thứ báu vật luôn phải nâng niu trân trọng. Chiếc quạt cùng áo bát quái và người vợ gắn bó từ thuở hàn vi vẫn là những bảo vật đáng giá nhất mà Gia Cát Lượng luôn gìn giữ bên mình.

Khổng Minh lấy vợ xấu ma chê quỷ hờn?

Cho tới ngày nay, giai thoại thú vị về Gia Cát Lượng và Hoàng Nguyệt Anh nhiều không kể xiết.

Thiên hạ vẫn đồn đại, Gia Cát Lượng tài trí hơn người, lại tuấn tú khôi ngô nhưng lại lấy người vợ dung nhan vô cùng xấu xí là Hoàng Nguyệt Anh. Liệu đó có phải sự thực?
Tạo hình Gia Cát Lượng
Gia Cát Lượng là một nhà chính trị, quân sự, chiến lược, ngoại giao kiệt xuất thời Tam quốc. Ông được hậu thế muôn đời nhắc nhớ với một niềm kính tôn tột bậc không chỉ bởi trí tuệ và tài năng lỗi lạc, mà còn vì lòng trung nghĩa sắt son.
Gia Cát Lượng (191 - 234), tự Khổng Minh, hiệu Ngọa Long tiên sinh, quê tại huyện Dương Đô, quận Lang Nha (nay thuộc huyện Nghi Nam, tỉnh Sơn Đông). Có cha là Gia Cát Khuê, tự là Quân Cống, thời Đông Hán từng làm quận thừa ở Thái Sơn.
Khi cùng thúc phụ chạy loạn tới Tương Dương, Gia Cát Lượng sống cảnh hàn vi nhưng vẫn dùi mài kinh sử, đau đáu một niềm với giang sơn xã tắc. Để khỏa lấp nỗi cô đơn, ông ngao du khắp chốn, kết giao bè bạn, bái kiến các bậc tiền bối, tìm đọc những cuốn sách hay để thu lượm kiến thức.
Nghe nói ở Ngọa Long Cương có viên ngoại họ Hoàng, trong nhà cất nhiều sách quý, ông bèn dời tới đây, dựng lều tranh ở gần để tìm dịp hội kiến. Lại thêm, nhà họ Hoàng có cô con gái tên Hoàng Nguyệt Anh, nức tiếng khắp vùng là một tài nữ. Gia Cát Lượng rất muốn gặp gỡ kết giao với nàng. Nhưng Hoàng viên ngoại ra sức ngăn cản. Không nản lòng, Gia Cát Lượng tỏ rõ kiệt tài về học vấn để thuyết phục. Không ngờ, Hoàng Thừa Ngạn tiết lộ, con gái ông có dung mạo xấu xí, rất khó coi, rồi khuyên Gia Cát Lượng nên tìm ý trung nhân tài sắc vẹn toàn.
Kể từ đó, thiên hạ rộ lời đồn thổi về nhan sắc ma chê quỷ hờn của tài nữ Nguyệt Anh. Thậm chí, nhiều cuốn sách bấy giờ còn mô tả, bà có dáng người thon thả, yêu kiều, nhưng mặt mày đen đúa, mụn nhọt. Lại có sách kể rằng, tiểu thư họ Hoàng tuy hiền dịu, nết na, trí tuệ vẹn toàn, nhưng ngặt nỗi dáng dấp thô kệch, xù xì, mặt đầy nốt rỗ.
Bất chấp mọi tin đồn, Gia Cát Lượng vẫn hạ quyết tâm tới nhà họ Hoàng cầu hôn. Để thử thách, Hoàng Nguyệt Anh đưa ra hàng loạt câu hỏi cốt để đức lang quân tương lai bật lên trí tuệ minh mẫn lẫn đức độ của mình. Để chiếm được trái tim người phụ nữ tài giỏi này, Gia Cát Lượng dốc hết tâm lực, tài trí, cuối cùng cũng thuyết phục được thiên kim tiểu thư họ Hoàng.
Nhưng theo trang Hoàn Cầu, kỳ thực, Hoàng Nguyệt Anh không chỉ trí tuệ tinh thông, bà đích thực là người phụ nữ có nhan sắc yêu kiều.
Nhan sắc thực sự của Hoàng Nguyệt Anh vẫn còn là bí ẩn khó giải với hậu thế.
Chuyện Hoàng Thừa Ngạn loan tin con gái mình xấu xí, thô kệch chỉ cốt để thử thách lòng kiên trì và bản lĩnh cương nghị của Gia Cát Lượng.
Trong dân gian, ngoài giả thuyết Nguyệt Anh bị liệt vào hàng “Ngũ xú Trung Hoa” (ý chỉ 5 người phụ nữ xấu nhất Trung Quốc nhưng tài giỏi hơn người), cũng có ý kiến cho rằng, nhan sắc của thiên kim tiểu thư họ Hoàng bị “bóp méo” phần nhiều do tên gọi A Sửu (Sửu trong tiếng Hán có nghĩa là xấu xí) mà Hoàng viên ngoại đặt cho con.
Nguyệt Anh trí tuệ uyên thâm, tinh thông binh pháp, võ nghệ siêu quần. Dù xinh đẹp mỹ miều, nhưng sau khi đã kết duyên chồng vợ với Khổng Minh, bà vẫn giữ thói quen đeo mặt nạ để che giấu nhan sắc thực sự của mình. Ấy là vì Gia Cát phu nhân không mưu cầu tiếng thơm phù phiếm. Bà âm thầm hỗ trợ cho đức phu quân được công thành danh toại, được vang vẻ với đời.

Cho tới ngày nay, giai thoại thú vị về Gia Cát Lượng và Hoàng Nguyệt Anh nhiều không kể xiết. Kể cả sự thực về nhan sắc của Gia Cát phu nhân vẫn còn khiến hậu thế phải tốn nhiều giấy mực tranh cãi. Nhưng thứ quý giá mà Khổng Minh và A Sửu để lại cho đời ấy chính là nghĩa tình chồng vợ chung thủy từ thuở hàn vi tới ngày nhung gấm. Trong đó, câu chuyện về nguồn gốc của chiếc quạt lông vũ là minh chứng điển hình cho mối tình sâu nặng của họ.

Tương truyền, vì ham mê võ nghệ, Hoàng Nguyệt Anh theo học danh sư trên núi. Võ nghệ đã luyện xong, bà được sư phụ tặng cho chiếc quạt lông vũ, còn tặng cho hai chữ “minh”, “lượng” và dặn dò: “Tên có hai chữ này chính là đức lang quân như ý của con”.
Khi Gia Cát Lượng tới cầu hôn, A Sửu cô nương bèn tặng cho ông chiếc quạt này rồi hỏi: “Gia Cát tiên sinh, có biết vì sao ta lại tặng ngài chiếc quạt này không?”.
“Phải chăng là lễ khinh tình nghĩa trọng (ý chỉ của ít lòng nhiều)?”, Gia Cát Lượng trả lời.
Thiên kim tiểu thư họ Hoàng lại hỏi: “Liệu còn nghĩa thứ hai?”.
Thấy Gia Cát Lượng suy nghĩ hồi lâu vẫn không đoán ra, A Sửu bèn giảng giải:
“Tiên sinh, ban nãy, khi đàm đạo thiên hạ đại sự cùng cha thiếp, thần thái người rạng rỡ, khí vũ hiên ngang, nhưng nói tới Tào Tháo, Tôn Quyền thì ưu tư lồ lộ ra ngoài. Thiếp tặng tiên sinh chiếc quạt này là để ngài che đi gương mặt lúc ấy”.
Người đời sau vẫn không ngớt lời ca ngợi sự tinh tế, thông minh của bà trong chuyện tặng quạt. Ngụ ý của Hoàng Nguyệt Anh chính là không muốn chồng mưu sự bất thành vì dao động tình cảm, chiếc quạt lông vũ sẽ như thứ bảo bối giúp nhà quân sư che giấu cảm xúc, suy nghĩ thực sự trước đối phương.
Sau khi kết duyên cùng A Sửu, quạt lông vũ trở thành vật bất ly thân với Khổng Minh Gia Cát Lượng. Ông luôn coi nó như thứ báu vật luôn phải nâng niu trân trọng. Mỗi lần phẩy quạt, là một lần diệu kế xuất ra, ấy là lời ca tụng mà hậu thế dành tặng cho nhà quân sự tài ba kiệt xuất này. Qua bao năm, chiếc quạt cùng áo bát quái và người vợ gắn bó từ thuở hàn vi vẫn là những bảo vật đáng giá nhất mà Gia Cát Lượng luôn gìn giữ bên mình.
Theo Báo Đất Việt

Gian nan chọn vợ của Khổng Minh -Gia Cát Lượng



Truyện tình ấy không có những giây phút hẹn hẹn hò nồng nàn quá đỗi, không có cảnh thư đi thư về trong nhớ nhung, sầu muộn … Trong chuyện tình ấy, người ta thấy nhiều chó gỗ, hổ thật, trận đồ vườn đào, … và vô vàn những chuyện không liên quan đến chữ tình. Thế nhưng chuyện tình ấy cũng được nhuốm bởi một chữ “sắc”, hợp-tan, vui-buồn theo một chữ nhỏ nhoi ấy… và tất cả những điều đó là chuyện tình của một con người đặc biệt: vị quân sư kì tài Khổng Minh…

Kỳ 1: Người mến duyên hứa gả, kẻ hám sắc chối từ

Chuyện tình của Khổng Minh Gia Cát Lượng có lẽ nên bắt đầu bằng một chữ sắc. Bởi vì một chữ ấy mà suýt nữa chính Gia Cát Lượng đã đẩy mình vào thế: cả đời không lấy nổi tri ân. Vậy há chăng một bậc đại trượng phu những tưởng cả đời chỉ biết đến hành sự, giúp đời lại cũng vấn vương trong lòng bởi hai chữ mỹ nhân?

Chuyển kể là dưới chân núi Ngọa Long, Nam Dương, nơi Gia Cát Lượng, tự Khổng Minh ẩn cư có gia đình Hoàng Thừa Ngạn sinh sống trong một gia trang rộng lớn. Gia đình họ Hoàng có người con gái tên là Hoàng Nguyệt Anh. Tuy nhiên nghe hàng xóm nói, nàng không được ông trời phú cho vẻ đẹp của một bậc tuyệt sắc giai nhân có thể khiến chim sa cá lặn mà ngược lại đen đúa, xấu xí. Bởi thế người ta vẫn thường gọi nàng bằng cái tên không được mỹ miều: Hoàng A Xú. Hoàng Thừa Ngạn, vẫn thường được gọi là Hoàng viên ngoại, cha của Hoàng A Xú, rất mến phục sự thông minh, chính trực của Khổng Minh. Do đó ông thường lên núi thăm và luận bàn thơ phú, văn chương cùng Khổng Minh. Hoàng viên ngoại lại có ý định gả con gái độc nhất của mình cho Lượng. Ông đã ngỏ ý của mình với Gia Cát Lượng. Tuy nhiên, Lượng, vì nghe nói dung nhan Hoàng tiểu thư có phần kém sắc, mặt đen xấu lại nhiều mọn nhọt thì do dự, ngại ngần. Trong lòng Lượng quả thật cũng không muốn kết duyên với một người con gái xấu nhưng cũng ngại từ chối thẳng thừng. Do đó Lượng im lặng, lần lữa dịp này qua dịp khác cho câu chuyện trôi đi theo thời gian.

Thời gian lẳng lặng trôi, câu chuyện hôn sự mà Hoàng viên ngoại ngỏ ý với Lượng cũng dần được quên lãng. Lúc này, mối thân tình giữa hai người là ở niềm vui, sự hợp ý trong luận bàn văn chương, thế sự. Trong một lần ngồi tâm tình, Hoàng viên ngoại có nói với Lượng: “Sao bấy lâu nay chỉ có ta đến thăm nhà tiên sinh mà tiên sinh chưa một lần ghé đến nhà ta?” Trước câu hỏi có phần đột ngột của Hoàng viên ngoại, Lượng có phần lúng túng vì quả thực, từ trước đến giờ, trong mối thân tình giữa Gia Cát Lượng và Hoàng viên ngoại thì Lượng chưa một lần xuống núi ghé thăm nhà ông. Rất ngại ngần, Lượng đáp: “Tại hạ thật là thất lễ, thất lễ quá! Nhất định tại hạ sẽ ghé thăm nhà đại nhân”.

Qua mấy hôm, nhân ngày đẹp trời, Lượng xuống núi tìm đến gia trang nhà Hoàng viên ngoại. Đến cổng trang viên, khi xưng danh, Lượng nhận được lời đáp hết sức trân trọng dành cho mình: “Hoàng viên ngoại có dặn trước rằng nếu đại nhân đến thăm thì không cần vào bẩm báo mà mời đại nhân vào thẳng nhà trong ạ”. Có phần cảm động trước thịnh tình mà Hoàng viên ngoại dành cho mình, Gia Cát Lượng vui vẻ bước vào trong phủ. Đi được một quãng ngắn, trước mặt Lượng xuất hiệnmột cánh cổng to, được đóng kín mít. Lượng gõ nhẹ, cánh cửa từ từ mở ra sau tiểng cọt kẹt. Lượng nhìn vào trong, không thấy một bóng người. Tuy thế Lượng vẫn bước tiếp và càng ngạc nhiên hơn khi cánh cổng tự động đóng lại. Trí tò mò cùng với sự ham học hỏi đã thúc giục Lượng quay lại xem cánh cổng đó hoạt động thế nào. Thế nhưng, chưa kịp thực hiện hóa ý nghĩ của mình thì Lượng đã giật mình bởi những tiếng “grừ, grừ ..”. Trước mặt Lượng lúc này lag hai con chó giữ, một đen như mực, một trắng như tuyết đang gầm gè chực lao vào Lượng. Lượng bèn quay lưng, cố gắng mở cổng để chạy thoát nhưng cửa càng kéo càng chặt. Lượng chỉ biết lấy tay mà che mặt. Lúc này có một a hoàn từ đâu chạy tới, rất nhẹ nhàng đập tay vào đầu hai chú chó rồi kéo tai chúng. Ngay lập tức hai con chó yên lặng, quay đầu chạy về phía trong nhà. Lượng thầm phục những con chó được huấn luyện quá tinh khôn. Nhưng khi bình tĩnh nhìn kĩ lại, Lượng mới biết rằng hai con chó đó được làm từ những tấm gỗ, bên ngoài có phủ lông chó.

“Thật đáng kinh ngạc!” Lượng vừa tiếp tục đi vào phủ trong cái ngỡ ngàng về những gì vừa nhìn thấy. Nhưng cái ngạc nhiên cũng nhanh chóng biến mất, nhường chỗ cho nỗi kinh hoàng mới: hai con hổ to như hai con bò mộng đang đững sừng sững trước mặt Lượng. Lúc này chân Lượng như có hàng trăm chiếc kiềng sắt bám chặt xuống đất không thể đi nổi nữa. Tuy nhiên với tư duy của một người thông minh, Gia Cát Lượng chắc mẩm trong bụng: hai con hổ cũng là giả như hai con chó lúc nãy thôi. Vì vậy, Lượng mỉm cười đắc chí rả bước tiến đến gần hai con hổ và đập tay lên đầu chúng. Song, trí dũng đôi khi không lại được chữ “ngờ”. Gia Cát Lượng không thể ngờ rằng hai con hổ đó thật đến độ không thể thâth hơn. Sau cú đập tay vào đầu của Lượng, chúng liền gầm lên, phi như bay về phía Lượng, giơ vuốt tát ngang vai Lượng. Máu chảy ướt áo, Lượng loay hoay tìm đường rút nhưng sức Lượng quá yếu so với hai ông ba mươi dũng mãnh đó. Lượng đang xanh mặy tái gan, thì a hoàn lúc này lại bất thần xuất hiện, nói: “Ngài tự cho mình là thông minh khi lấy cách trị chó ra để đối phó với hổ hay sao?”. Nói rồi a hoàn đập vào mông hai con hổ để chúng đi vào chỗ của mình và nằm xuống.

Đến lúc này Gia Cát Lượng cảm thấy thực sự hổ thẹn, thở dài mà nói: “Gia trang nhà ta quả thật rất rộng lớn và quá đỗi bí hiểm, muốn vào được thật là khó. Làm phiền tiểu thư đưa ta vào trong”. Đáp lại lời cầu khẩn của Lượng, a hoàn nói: “Nô tỳ đang bận nghiền ngô mất rồi”. Theo cánh tay của a hoàn, Gia Cát Lượng đưa mắt vào trong thì đúng lfa có một cái cối xay đang được một chú lừa bằng gỗ kéo. Lượng không tin vào mắt mình nữa. Một người nổi tiếng thông minh, mưu trí như Lượng đến lúc này cũng phải thốt lên: 
“Trời ơi, ta vỗn biết học vấn của Hoàng lão tiên sinh rất uyên thâm nhưng thật không ngờ là tiên sinh còn có thể làm ra được những thứ kỳ lạ đến thế này”. A hoàn nghe thấy liền cười nói: “Lão gia không thèm để ý đến những thứ linh tinh này đâu”. Ngạc nhiên, Gia Cát Lượng hỏi: “Không phải là Hoàng viên ngoại sao? Vậy thì có thể là ai được?”. A hoàn cười ẩn ý: “Ngài cứ đi vào trong, sẽ biết ngay thôi ạ!”. 

Kỳ 2:Trận đồ rừng đào

Gia Cát Lượng lúc này thực sự rất đắn đo bởi chỉ trong một quãng đường ngắn mà đã gặp phải bao nhiêu rắc rối rồi , giờ đi tiếp không biết sẽ còn gặp phải những điều gì nữa đây . Đang do dự , chùng chình chưa muốn bước đi tiếp thì cánh cửa phía trước mặt đột nhiên mở ra . Một vị cô nương với dáng người thanh mảnh , cao ráo , có phần nhanh nhẹn bước ra . Quan sát kĩ thì thấy khuôn mặt cô đen đúa , da mặt cũng không phải mịn màng bởi có rất nhiều mụn to trên mặt . Quả là không có ấn tượng nào về hai chữ nhan sắc nếu không muốn nói là khó coi . Tuy nhiên giọng nói của người con gái có phần kém sắc đó lại rất nho nhã thân thiện . Nàng hỏi a hoàn “ Vị quan khách này từ đâu đến vậy ?” Không chờ a hoàn đáp lời Gia Cát Lượng liền tự giới thiệu “ Tai hạ là Khổng Minh ở núi Ngọa Long xin bái kiến” Vị cô nương đáp lời” Mời tiên sinh vào nhà trong” Lúc này Gia Cát Lượng như chim ngã sợ cành cong không biết có nên đi theo nữa không thì a hoàn liền thúc giục “ Ngài mau đi đi, không có gì phải sợ đâu” cùng lúc đó Hoàng viên ngoại đi ra cổng và mời Lượng vào nhà,Lượng đáp lễ rồi đi theo viên ngoại vào nhà.

Hoàng viên ngoại mời Gia Cát Lượng lên lầu , sau những lời chào hỏi Lượng nói “ Gặp được tiên sinh thật không dễ dàng gì” rồi Lượng thuật lại những gì xảy ra với mình khi đến gia trang. Nghe những gì Lượng kể Hoàng viên ngoại cười lớn rồi đáp: “Ôi đứa con xấu xí của ta, việc tốt việc hay rất nhiều mà lại đi làm những trò quái đản khiến tiên sinh phải sợ. Thật là bất kính, bất kính quá!” Nghe những lời mà Hoàng viên ngoại nói, trong lòng Lượng lúc này đã có phần tự trách mình: “Lượng ơi là Lượng. Ngươi thật là hồ đồ quá đi. Hoàng viên ngoại đã có ý gả con gái cho ngươi, ngươi lại còn bày trò chê người ta xấu xí. Ngươi đi tìm đâu được một người con gái tài hoa, phi phàm đến dường đấy. Đến ngươi cũng thích gái đẹp hay sao?” Nghĩ vậy Gia Cát Lượng đáp lời Hoàng viên ngoại: “Tiểu thư tài trí hơn người, tiểu sinh muôn phần kính nể.” Nghe Gia Cát Lượng nói vậy, Hoàng viên ngoại thở dài mà thương tiếc cho nhan sắc có phần không được bằng ai của con gái mình. Gia Cát Lượng đội nhiên ngắt lời Hoàng viên ngoại cúi xuống mà nói: “Nếu tiên sinh không chê vãn bối xin phép được kết duyên cùng tiểu thư nhà ta” Hoàng viên ngoại hạnh phúc mỉm cười và mời Lượng ở lại gia trang chơi vài ngày để thăm thú phong cảnh. 

Sáng ngày hôm sau, khi đang cũng Hoàng viên ngoại thưởng trà, đưa mắt nhìn ra cửa sổ Gia Cát Lượng thấy cả một vườn đào đang nở hoa rực rỡ, trong đầu không khỏi băn khoăn, hoa đào giờ đã tàn sao lại còn có thể rực rỡ và đẹp đến nhường ấy. Hoàng viên ngoại nhìn theo ánh mắt của Lượng cười ngất và ngỏ lời: “Mời tiên sinh đi thăm cảnh vườn đào”. Hai người bước ra đi qua những con đường quanh co, những khu vườn rau xanh tốt thì đến vườn đào, Hoàng viên ngoại xin phép không vào vườn thăm thú mà chỉ để một mình Lượng vào mà thôi. Vừa bước vào vườn đào Lượng đã cảm thấy vô cùng thoải mái dễ chịu. Không gian nhẹ nhàng thanh thoát đến khó tả. Lượng đưa mắt nhìn quanh khu vườn bất chợt khuôn mặt Lượng trở nên biến sắc, có phần hãi hùng. Hóa ra cả khu vườn đã được lập thành một trận đồ vô cũng nguy hiểm, khiến một kỳ tài về trận đồ như Gia Cát Lượng cũng phải dựng tóc gáy, vã mồ hôi vì khâm phục và nể sợ. Lượng đứng ngắm vườn đào một hồi lâu, cảm thấy thế trận này có phần tương đồng với “Bát trận đồ”. Khi so trận đồ trong vườn đào với “Bát trận đồ” thì đúng cái là Vua dưới đất, cái là Vương trên trời , khó có thể so sánh cái nào hơn cái nào được. Thế trận vườn đào nhìn từ ngoài vào thì tưởng chừng như không có gì, song nếu nhìn từ phía trong ra thì đúng là đáng kinh ngạc và khó có thể thoát ra nổi. Mải mê ngắm trận đồ Lượng lạc bước và thấy mình đang bị trói chân trong trận đồ. Mỗi gốc đào đều như có khả năng di chuyển, lo sợ lạc bước sẽ tự mình dẫn thân vào con đường chết nên Lượng không dám sơ suất, tập trung cao độ cẩn thận vượt qua từng cửa trận . Và cuối cùng Lượng đã thoát khỏi trận đồ trrong thời gian 3 tuần hương trong đầu không khỏi thán phục : Kì trận. Đúng là kì trận.

Ra khỏi vườn, Hoàng viên ngoại đón Lượng bằng câu nói “Không ngờ tiểu nữ mất tám năm trời để bầy binh bố trận vẫn không bằng ba tuần hương của ngài. Ngài cũng không hổ danh là bậc cao nhân kì tài của đất Nam Dương”Lượng cúi người chắp lạy Hoàng viên ngoại mà nói ‘ Hổ thẹn Thật là hổ thẹn! quả thực nếu hai bên xảy ra giao chiến. Lượng tôi gặp thế trận này có cố vắt óc suy nghĩ chắc cũng không thể tìm ra lối thoát ! Tiểu thư thông minh hơn người khiến Lượng tôi vô cùng ngưỡng mộ” Hoàng viên ngoại trầm ngâm “Tiểu nữ được trời phú cho trí tuệ hơn người nhưng hiềm một nỗi nhan sắc không được như ý, khó mà được làm dâu chốn thượng lưu thật là đáng tiếc ..đáng tiếc..” Cát Lượng ứng đáp “Hoàng viên ngoại sao có thể mang tài sắc của Hoàng tiểu thư so sánh với những thứ tầm thường dung tục đó được chứ”.

Kỳ 3:Trai kỳ tài , gái kỳ tài , duyên tình bén , cưới liền tay

Rời vườn đào về nhà , Hoàng Thừa Ngạn cho gọi Hoàng tiểu thư đến ra mắt Gia Cát Lượng . Hoàng tiểu thư đến chào Gia Cát Lượng , Lượng đáp lễ rồi khẽ hỏi “Xin hỏi có phải con vật ở vườn trước và trận đồ vườn đào đều do một tay Tiểu thư làm ra không ?”Hoàng tiểu thư liền đáp “ Bất tài , bất tài ...chính là do tiểu nữ làm ra”. Lượng khom người hành lễ bày tỏ sự nể phục tài năng xuất chúng của Hoàng tiểu thư.

Hoàng tiểu thư liền nói “ Nghe danh Ngọa Long của ngài đã lâu , nay mới có dịp được gặp mặt .Tỳ thiếp rất lấy làm vinh hạnh. Tỳ thiếp chỉ là một nữ nhi bình thường , có chút tài mọn , mong Tiên sinh đừng cười chê” Măt Cát Lượng bỗng đỏ gay , trong lòng trộm nghĩ “May thay nàng là phận nữ nhi , nếu không bát cơm manh áo của Ngọa Long ta đã sớm bị nàng cướp mất rồi”. Hoàng tiểu thư lại nói “ Ngày trước nghe nói ngài tự so sánh mình với Quản Trọng , Nhạc Nghị , xin hỏi tryện này có thật không?” Cát Lượng lấy lại thần sắc đáp “ Đúng là vậy , mặc dù nghe có chút ngốc nghếch nhưng tôi luôn muốn tạo dựng việc lớn . Thiên hạ ngày nay lắm rối ren , các băng đảng kéo bè kết phái , chỉ khổ cho dân chúng lầm than . Lượng tôi muốn chiêu mộ những kẻ hiền tài trong thiên hạ tạo ra một chế độ mới để có thể đem lại cuộc sống phồn vinh , hạnh phúc cho dân chúng” Hoàng tiểu thư nghe vậy gật đầu thán phục “ Tiên sinh quả là một nhân tài của đất nước , có khí phách của bậc quân vương . Thật hoài công cho những kẻ phàm phu , tục tử không biết tự lượng sức mình mà đem ra so bì với ngài . Tiểu nữ thật có phúc lớn mới gặp được một anh tài như ngài , quả đã không sống uổng kiếp này rồi’. Nói song Hoàng tiểu thư e thẹn cúi đầu chào Cát Lượng rồi lẵng lặng đi vào khuê phòng.

Cát Lượng dường như đang nghe thấy rất rõ từng nhịp đập của trái tim mình trước cái tài , cái tâm của người con gái có phần xấu xí ấy. Nhưng chính trong lúc cảm phục về tài năng của Hoàng tiểu thư . Lượng cũng đã phát hiện ra một dấu hiệu có thể “ lật ngược” chữ sắc của Hoàng tiểu thư . Đó là dưới cằm của tiểu thư có một vết xước lộ ra một vệt nhỏ trắng , nhìn kĩ lớp da đen trông giống như một lớp hóa trang. Lượng nghĩ thầm trong bụng “ Với tài hoa xuất chúng của Hoàng tiểu thư , gương mặt dù có xấu xí nhưng cũng không đến mức không thể nhìn được đã đủ để ta cảm phục mà lấy nàng . Nay diện mạo kia có thể chỉ là giả thì còn gì hạnh phúc hơn nữa . Một mỹ nhân lại tài hoa , tâm đầu ý hợp có thể giúp đỡ ta trong công danh sự nghiệp là điều ta không thể đòi hỏi hơn . còn nếu có không xinh đẹp thì với ta cũng quá đủ rồi” Nghĩ vậy Gia Cát Lượng quỳ xuống chắp tay lên đầu mà nói rằng “ Nhạc phụ trên cao xin nhận của con rể một lạy” . Hoàng viên ngoại đắc ý cười lớn cúi người đỡ Lượng đứng dậy. Ngày lành , tháng tốt sẽ được ấn định vào ngày hôm sau.

Kỳ 4:Viết thư thoái hôn ngầm hẹn ước (tiếp theo và hết)

Rời Hoàng gia trang về nhà , Cát Lượng thưa chuyện cưới vợ với chị dâu . Chị dâu vô cùng mừng rỡ và nói việc đại hỷ phải tổ chức cho chu đáo , linh đình .Rồi đoạn hỏi em dâu là con cái nhà ai ?. Cát Lượng liền đáp “ Ân sư của đệ là Hoàng Thừa Ngạn có một người con gái tên là Hoàng Nguyệt Ánh , Nguyệt Ánh là người học rộng biết nhiều , nhã nhặn ôn hòa..”

Vừa nghe Lượng nói chị dâu tức tối ngắt lời mà thốt lên những lời cay độc “ Hoàng Nguyệt Ánh ư ? Đệ không biết nàng ta còn có tên là Hoàng A Xú da đen như than mặt đầy mụn nhọt hay sao ?” Rồi ngay lập tức chị dâu thay đổi ý định bắt Lượng không được cưới Nguyệt Ánh và để ép Lượng phải thực hiện , chị dâu đưa ra thông điệp cuối cùng “ Nếu đệ không thay đổi chủ ý khăng khăng muốn cưới Nguyệt Ánh làm vợ thì từ nay ta sẽ không nhận đúa em bất hiếu như đệ nữa và sẽ không bao giờ quan tâm đến chuyện hôn sự của đệ” Về phần Gia Cát Lượng vị kì tài quân sư này không muốn thay đổi ý định cưới Nguyệt Ánh lại càng không đành lòng làm chị dâu buồn nên đã tự tay viết giấy thoái hôn .Viết xong , trước mặt chị dâu đưa cho người bạn gửi đến cho Hoàng tiểu thư 
Thơ rằng :

Tiếu nhĩ dung mạo bất phối ngã

Tha nhật lánh phù loan phượng chí

Đa lựong tiểu sinh xưa thế nãn

Khẩu ứng hôn ước khả cải di

Nghĩa là :

Cười dung mạo người không xứng ta

Người không cùng đồng tâm quyết chí

Lắm sự khiến tiểu sinh ở thế khó

Lời hôn ước gió bay dễ đổi rời

Ba tháng sau ngày viết thư từ hôn , Lượng úp mở thông báo với chị dâu “Ba ngày nữa em lấy vợ rồi” Chị dâu kinh ngạc hỏi dồn “ là khuê nử nhà ai vậy? ” Lượng cười tinh ranh nói” Chị không cần phải vôi vàng đâu , chuẩn bị mọi thứ để đón tân nương thôi , đợi đến ngày hôn lễ chị tự sẽ biết là ai” Ngày cử hành hôn lễ dã đến 
khi kiệu hoa đua tân nương đến chị dâu mới biết tân nương chính là Hoầng Nguyệt Ánh . Chị dâu liền quay phắt sang Cát Lượng nghiêm nghị hỏi “ Cát Lượng lần trước không phải đưa thư thoái hôn rồi sao ?’ Cát Lượng nhanh nhẩu trả lời “ Chị dâu chị còn nhớ bài thơ viết trên bức thư thoái hôn chứ” Người bạn hôm nọ nhận đưa thư thoái hôn cho Nguyệt Ánh cũng có mặt trong hôn lễ cười mà nói rằng “ Đó là một bài thơ có ngụ ý rằng . Cười người lắm lời . Ta ý khó rời ”

Tình cảm , ý chí và cả sư thông minh của Gia Cát Lượng cũng như Hoàng tiểu Thư làm chị dâu cảm động mà chấp nhận.
Trai anh hùng gái thuyền quyên

Sau khi tàn tiệc cưới chỉ còn lại tân lang tân nương Cát Lượng cảm thấy hồi hộp lạ thường . Việc lúc này là phải lật tấm màn che đầu của tân nương rồi Cát Lương uống thêm cốc rượu lấy dũng khí tiến lại gần tân nương Cát Lượng từ từ vén tấm màn che mặt tân nương . Và đúng là người có công ông trời chẳng phụ , làn da trắng như tuyết của Hoàng tiểu thư dần hiện ra dưới ánh nến lung linh huyền ảo và trở nên đẹp tuyệt trần . Các đường nét thanh tú trên khuôn mặt sau khi được “dỡ bỏ” chiếc mặt nạ hóa trang lộ diện và khoe vẻ đẹp mĩ miều quyến rũ của chúng.

Cát Lượng chiêm ngưỡng tân nương bất giác im lặng trong lòng thực sự hạnh phúc “ Nàng mới đẹp làm sao ? là tiên nữ hay người trần ? thế là ta đã đúng . Nàng là người tài trí và xinh đẹp …” Họ mời rượu nhau , sau khi cạn chén Hoàng tiểu thư quay sang hỏi “ Tướng công , chàng không ngạc nhiên sao ?” Cát Lượng cười hỏi “ Nương tử à ta sao phải ngạc nhiên ?” Nguyệt Ánh nũng nịu “ Nương tử ..à.. tỳ nữ xinh đẹp hơn ngày trước mà..” Cát Lượng nhìn Nguyệt Ánh nói “ Phải nàng đẹp rất đẹp” “ Vậy sao tướng công không ngạc nhiên ?” Nguyệt Ánh hoài nghi . Cát Lượng nhìn vẻ mặt Nguyệt Ánh phì cười nhỏ nhẹ nói “ Nương tử à cái chiêu cỏn con ấy qua mắt ta sao được” Thì ra lâu nay Hoàng tiểu thư hóa trang xấu xí để có thể tìm một người anh hùng thật sự . Và Gia Cát Lượng chính là vị anh hùng của đời mình mà nàng đã tìm thấy.

Nhưng có thật Gia Cát Lượng đã thấy ngay cái đẹp của Hoàng tiểu thư từ giây phút đầu tiên không ? có lẽ là không. Có lẽ Lượng đã suýt đánh mất hạnh phúc của đời mình bởi chữ sắc. Nhưng cuối cùng cái duyên, cái tài và cái tình nữa mà Gia Cát Lượng, vị quân sư nổi tiếng có được hạnh phúc trọn vẹn.

Tác giả: Lê Đỗ

Bài viết cùng chuyên mục

Nhan sắc thực sự của vợ quân sư Khổng Minh

Cho tới ngày nay, giai thoại thú vị về Gia Cát Lượng và vợ là Hoàng Nguyệt Anh nhiều không kể xiết.

Thiên hạ vẫn đồn đại, Gia Cát Lượng tài trí hơn người, lại tuấn tú khôi ngô nhưng lại lấy người vợ dung nhan vô cùng xấu xí là Hoàng Nguyệt Anh.
Gia Cát Lượng là một nhà chính trị, quân sự, chiến lược, ngoại giao kiệt xuất thời Tam quốc. Ông được hậu thế nhắc tới với một niềm kính tôn tột bậc không chỉ bởi trí tuệ và tài năng lỗi lạc, mà còn vì lòng trung nghĩa sắt son.
Gia Cát Lượng (191 – 234), tự Khổng Minh, hiệu Ngọa Long tiên sinh, quê tại huyện Dương Đô, quận Lang Nha (nay thuộc huyện Nghi Nam, tỉnh Sơn Đông). Lượng có cha là Gia Cát Khuê, tự là Quân Cống, thời Đông Hán từng làm quận thừa ở Thái Sơn.

Gia Cát Lượng trên phim Tam quốc diễn nghĩa
Khi cùng chú chạy loạn tới Tương Dương, Gia Cát Lượng sống cảnh hàn vi nhưng vẫn dùi mài kinh sử, đau đáu một niềm với giang sơn xã tắc. Để khỏa lấp nỗi cô đơn, ông ngao du khắp chốn, kết giao bè bạn, bái kiến các bậc tiền bối, tìm đọc những cuốn sách hay để thu lượm kiến thức.
Nghe nói ở Ngọa Long Cương có viên ngoại họ Hoàng, trong nhà cất nhiều sách quý, Lượng bèn dời tới đây, dựng lều tranh ở gần để tìm dịp hội kiến. Lại thêm, nhà họ Hoàng có cô con gái tên Hoàng Nguyệt Anh, nức tiếng khắp vùng là một tài nữ. Gia Cát Lượng rất muốn gặp gỡ kết giao với nàng. Nhưng Hoàng viên ngoại ra sức ngăn cản. Không nản lòng, Gia Cát Lượng tỏ rõ kiệt tài về học vấn để thuyết phục. Không ngờ, Hoàng Thừa Ngạn tiết lộ, con gái ông có dung mạo xấu xí, rất khó coi, rồi khuyên Gia Cát Lượng nên tìm ý trung nhân tài sắc vẹn toàn.
Kể từ đó, thiên hạ rộ lời đồn thổi về nhan sắc ma chê quỷ hờn của tài nữ Nguyệt Anh. Thậm chí, nhiều cuốn sách bấy giờ còn mô tả, bà có dáng người thon thả, yêu kiều, nhưng mặt mày đen đúa, mụn nhọt. Lại có sách kể rằng, tiểu thư họ Hoàng tuy hiền dịu, nết na, trí tuệ vẹn toàn, nhưng ngặt nỗi dáng dấp thô kệch, xù xì, mặt đầy nốt rỗ.
Bất chấp tin đồn, Gia Cát Lượng vẫn hạ quyết tâm tới nhà họ Hoàng cầu hôn. Để thử thách, Hoàng Nguyệt Anh đưa ra hàng loạt câu hỏi cốt để đức lang quân tương lai bật lên trí tuệ minh mẫn lẫn đức độ của mình. Để chiếm được trái tim người phụ nữ tài giỏi này, Gia Cát Lượng dốc hết tâm lực, tài trí, cuối cùng cũng thuyết phục được inhthiên kim tiểu thư họ Hoàng.
Theo một chuyên gia tiết lộ trên Hoàn Cầu thời báo, kỳ thực, Hoàng Nguyệt Anh không chỉ trí tuệ tinh thông, bà đích thực là người phụ nữ có nhan sắc yêu kiều.
Chuyện Hoàng Thừa Ngạn loan tin con gái mình xấu xí, thô kệch chỉ cốt để thử thách lòng kiên trì và bản lĩnh cương nghị của Gia Cát Lượng.
Trong dân gian, ngoài giả thuyết Nguyệt Anh bị liệt vào hàng “Ngũ xú Trung Hoa” (5 người phụ nữ xấu nhất Trung Quốc nhưng tài giỏi hơn người), cũng có ý kiến cho rằng, nhan sắc của thiên kim tiểu thư họ Hoàng bị “bóp méo” phần nhiều do tên gọi A Sửu (Sửu trong tiếng Hán có nghĩa là xấu xí) mà Hoàng viên ngoại đặt cho con.
Nguyệt Anh trí tuệ uyên thâm, tinh thông binh pháp, võ nghệ siêu quần. Dù xinh đẹp mỹ miều, nhưng sau khi đã kết duyên chồng vợ với Khổng Minh, bà vẫn giữ thói quen đeo mặt nạ để che giấu nhan sắc thực sự của mình. Ấy là vì Gia Cát phu nhân không mưu cầu tiếng thơm phù phiếm. Bà âm thầm hỗ trợ cho đức phu quân được công thành danh toại, được vang vẻ với đời.
Cho tới ngày nay, giai thoại thú vị về Gia Cát Lượng và Hoàng Nguyệt Anh nhiều không kể xiết. Kể cả sự thực về nhan sắc của Gia Cát phu nhân vẫn còn khiến hậu thế phải tốn nhiều giấy mực tranh cãi. Nhưng thứ quý giá mà Khổng Minh và A Sửu để lại cho đời ấy chính là nghĩa tình chồng vợ chung thủy từ thuở hàn vi tới ngày nhung gấm. Trong đó, câu chuyện về nguồn gốc của chiếc quạt lông vũ là minh chứng điển hình cho mối tình sâu nặng của họ.
Tương truyền, vì ham mê võ nghệ, Hoàng Nguyệt Anh theo học danh sư trên núi. Võ nghệ đã luyện xong, bà được sư phụ tặng cho chiếc quạt lông vũ, còn tặng cho hai chữ “minh”, “lượng” và dặn dò: “Tên có hai chữ này chính là đức lang quân như ý của con sau này”.
Khi Gia Cát Lượng tới cầu hôn, A Sửu cô nương bèn tặng cho ông chiếc quạt này rồi hỏi: “Gia Cát tiên sinh, có biết vì sao ta lại tặng ngài chiếc quạt này không?”.
“Phải chăng là ‘lễ khinh tình nghĩa trọng’ (ý chỉ của ít lòng nhiều)?”, Gia Cát Lượng trả lời.
Thiên kim tiểu thư họ Hoàng lại hỏi: “Liệu còn nghĩa thứ hai?”.
Thấy Gia Cát Lượng suy nghĩ hồi lâu vẫn không đoán ra, A Sửu bèn giảng giải:
“Tiên sinh, ban nãy, khi đàm đạo thiên hạ đại sự cùng cha thiếp, thần thái người rạng rỡ, khí vũ hiên ngang, nhưng nói tới Tào Tháo, Tôn Quyền thì ưu tư lồ lộ ra ngoài. Thiếp tặng tiên sinh chiếc quạt này là để ngài che đi gương mặt lúc ấy”.
Người đời sau vẫn không ngớt lời ca ngợi sự tinh tế, thông minh của bà trong chuyện tặng quạt. Ngụ ý của Hoàng Nguyệt Anh chính là không muốn chồng mưu sự bất thành vì dao động tình cảm, chiếc quạt lông vũ sẽ như thứ bảo bối giúp nhà quân sư che giấu cảm xúc, suy nghĩ thực sự trước đối phương.
Sau khi kết duyên cùng A Sửu, quạt lông vũ trở thành vật bất ly thân với Khổng Minh Gia Cát Lượng. Ông luôn coi nó như thứ báu vật luôn phải nâng niu trân trọng. Mỗi lần phẩy quạt, là một lần diệu kế xuất ra, ấy là lời ca tụng mà hậu thế dành tặng cho nhà quân sự tài ba kiệt xuất này. Qua bao năm, chiếc quạt cùng áo bát quái và người vợ gắn bó từ thuở hàn vi vẫn là những bảo vật đáng giá nhất mà Gia Cát Lượng luôn gìn giữ bên mình.
(BDV)