CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996               CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996               CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996                                  TIN TỔNGHỢP                     GIÃ SỬ                         QUÂNSỰ                    CHUYỆN LẠ              WEB                                    

Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2013

Chuyện lấy vợ kỳ quái của vua thứ 2 triều Thanh

Hết phi tần lại đến hoàng hậu của vua Mông Cổ tìm đến với Hoàng Thái Cực - hoàng đế nhà Thanh, kẻ tiêu diệt chồng họ - xin làm vợ ông.

Vào đầu thời kỳ nhà Thanh, các cuộc hôn nhân của hoàng đế hầu hết đều mang màu sắc chính trị. Nỗ Nhĩ Cáp Xích, người được coi là ông vua sáng lập nên triều Thanh, có 14 người vợ được ghi chép trong sử sách thì 7 người là kết quả của những cuộc liên minh chính trị. Tới thời Thanh Thái tông Hoàng Thái Cực, cũng có tới 7 người vợ Mông Cổ, chiếm tới một nửa số phi tần chính thức. 
Thời Thanh Thế tổ Phúc Lâm, số phi tần xuất thân từ Mông Cổ cũng có tới 6 người, chiếm tới một phần ba hậu cung… Chính vì phong trào hôn nhân chính trị rất thịnh hành mà các cuộc hôn nhân của vua triều Thanh trở nên vô cùng lạ lùng. Trong số đó, có lẽ chuyện hôn nhân của Thanh Thái tông Hoàng Thái Cực là kì lạ nhất.
Ông vua tài ba và tham vọng
Hoàng Thái Cực sinh năm 1592, là con trai của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, và là hoàng đế thứ hai của nhà Thanh. Mặc dù xếp ở vị trí thứ hai song thực chất chính Hoàng Thái Cực chứ không phải cha mình đã xây dựng nên Thanh triều. Năm 1627, ở tuổi 35, sau khi đánh bại tất cả những người anh em của mình trong cuộc chạy đua tranh giành quyền lực, Hoàng Thái Cực đã chính thức lên ngôi Đại Hãn nhà Hậu Kim. Sau khi lên ngôi, Hoàng Thái Cực không ngừng củng cố quyền lực.
Năm 1631, 4 năm sau khi nắm quyền Đại Hãn, Hoàng Thái Cực quyết định tiêu diệt thế lực của anh trai là Đại bối lặc Đại Thiện, người nắm giữ một quyền hành rất lớn trong triều đình, có quyền ngồi ngang hàng với Đại Hãn. Tới năm 1635, nhân một lỗi nhỏ của Đại Thện, Hoàng Thái Cực đã hợp các Kỳ chủ Bát Kỳ và quan lại sáu bộ để định tội Đại Thiện. Ông ta bị tước bỏ ngôi vị Đại bối lặc, bị thu lại quyền kiềm soát 2 kỳ. Tuy không mất mạng, nhưng qua sự kiện này, thế lực của Đại Thiện không còn cách nào hồi phục được nữa. Đối thủ lớn cuối cùng của Hoàng Thái Cực đã bị tiêu diệt. Kể từ đây, ông trở thành người có quyền lực tối cao trong triều đình Hậu Kim
Sau khi nắm được toàn bộ quyền lực trong triều đình, ông bắt đầu tính chuyện bành trướng lãnh thổ. Trong đó, mục đích lớn nhất của Hoàng Thái Cực chính là vùng Trung Nguyên giàu có, nơi triều đình nhà Minh đang ngày trở nên suy yếu. Ngày 15.5.1636, ông quyết định lên ngôi hoàng đế, đổi tên nước từ Hậu Kim thành Đại Thanh, lấy niên hiệu là Sùng Đức, đồng thời đổi tên bộ tộc mình từ Nữ Chân thành Mãn Châu. Một năm sau đó, ông tự mình dẫn quên tấn công Triều Tiên, buộc triều đình Triều Tiên phải quy phục. 
Từ sau đó, Triều Tiên trở thành một chốn phên dậu của triều Thanh, phái thân triều Minh ở Triều Tiên cũng bị tiêu diệt. Ông bắt đầu chuyên tâm vào công cuộc thu phục Minh triều. Mặc dù cho tới lúc chết, ông vẫn chưa hoàn thành được tham vọng thu phục Trung Nguyên (phải tới đời con ông là Thuận Trị, nhà Thanh mới tiêu diệt nhà Minh, hoàn thành công cuộc chinh phục Trung Nguyên ), song Hoàng Thái Cực chính là người đặt nền móng quan trọng cho công cuộc chinh phục này.
Nhiều người cho rằng, một trong những nguyên nhân khiến ông dễ dàng thành công trong con đường chinh phục quyền lực của mình chính là nhờ vào những cuộc hôn nhân mang màu sắc chính trị. Trong cuộc đời mình, ông có tổng cộng 15 người vợ, trong số đó có tới 7 người xuất thân từ thảo nguyên Mông Cổ. Điều đáng nói hơn chính là, trong số 5 hậu phi này thì 2 người là quả phụ trước khi được đưa vào cung của ông. 

Hình minh họa 
Tuy nhiên, sự kỳ lạ trong hôn nhân của ông không chỉ có như vậy. Trong cuộc đời mình, Hoàng Thái Cực từng gả một hậu phi từng sinh cho mình hai người con cho một người khác. Đó là điều mà chưa có bất kỳ vị vua nào trong lịch sử phong kiến Trung Quốc từng làm
Nạp hai góa phụ làm quý phi
Vì sao một Hoàng đế như Hoàng Thái Cực, người vốn được coi là cửu ngũ chí tôn, chúa tể thiên hạ, lại phải hạ mình lấy hai góa phụ về làm hậu phi? Trên thực tế, hai góa phụ này có thân phận cực kỳ dặc biệt. Họ vốn là hai người vợ của Sát Hợp Nhĩ Lâm Đan Hãn, vị Đại Hãn thống trị các bộ tộc của người Mông Cổ. 
Sau chiến dịch chinh phục Triều Tiên lần thứ nhất năm 1623, Hoàng Thái Cực đã tổ chức nhiều chiến dịch tấn công các đội quân của Mông Cổ do Lâm Đan Hãn đứng đầu. Tới năm 1628, sau 5 năm chinh phạt, quân của Lâm Đan Hãn bị quân của Hoàng Thái Cực đánh bại, bản thân Lâm Đan Hãn bị giết trên đường chạy trốn sang Tây Tạng. Sự kiện này đã dẫn tới việc con trai của Lâm Đan Hãn phải đầu hàng người Mãn Châu. Các bộ tộc Mông Cổ đã suy tôn Hoàng Thái Cực thành Đại Hãn của Mông Cổ.
Sau thất bại của cha con Lâm Đan Hãn, thuộc hạ của vị Đại Hãn Mông Cổ tứ tán khắp nơi. Ngay cả những người vợ của Lâm Đan Hãn cũng tự tìm cho mình những người chủ mới để nương tựa. Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, người chủ mới đáng tin cậy nhất đương nhiên là Hoàng Thái Cực.
Tháng 8 năm 1634, Đậu Thổ Môn, một hậu phi của Lâm Đan Hãn, dưới sự bảo vệ của Đa Ni Khố Lỗ Khắc, đã dẫn một đoàn quân tới doanh trại của Hoàng Thái Cực xin được đầu hàng. Ông đã đồng ý và giao cho Đậu Thổ Môn và Đa Ni Khố Lỗ Khắc đóng quân, cai quản ở vùng Mộc Hồ Nhĩ. 
Kỳ thực, lúc bấy giờ, Đậu Thổ Môn rất muốn được gả về cho Hoàng Thái Cực nhưng không dám nói ra. Đại bối lặc Đại Thiện thấy vậy, biết rõ mục đích của Đậu Thổ Môn lặn lội tới doanh trại người Mãn Châu không chỉ để đầu hàng và xin đất phong. Vì vậy, Đại Thiện đã nói với Hoàng Thái Cực rằng, người phụ nữ này là quà tặng của trời, nên nạp cô ta làm phi tử.
Trên thực tế, Đậu Thổ Môn là một mỹ nhân hiếm có, không chỉ nhan sắc hơn người mà còn thông minh, sắc sảo. Ngay từ khi Đậu Thổ Môn bước vào, Hoàng Thái Cực đã rất vừa ý với vị mỹ nhân đến từ thảo nguyên này. Tuy nhiên, là người thống lĩnh triều đình Hậu Kim, tiêu diệt Lâm Đan Hãn, ông rất sợ người đời sẽ nói rằng, ông ta phát động chiến tranh với người Mông Cổ thực chất chỉ để cướp vợ người khác nên nhất định từ chối, không chịu nghe theo lời khuyên của Đại thiện. 
Đại Thiện thấy vậy liền nói: “Không thể có chuyện đó, ngược lại, nếu như ta làm như vậy thì thậm chí còn lôi kéo được một bộ phận người Mông Cổ tới đầu hàng, trở thành liên quân của chúng ta”. Các bối lặc (tương đương tước vương hoặc chư hầu, trong triều đình nhà Thanh, bối lặc có quyền tham gia nghị bàn chính sự ) khác cũng cho rằng, nếu làm như vậy thì sẽ có lợi trong việc thu phục những thuộc hạ trước đây của Lâm Đan Hãn. Nói cách khác, việc nạp vợ của Lâm Đan Hãn làm thiếp là một “nhu cầu cấp thiết về mặt chính trị” vào thời điểm lúc bấy giờ.
Tới lúc này, Hoàng Thái Cực bắt đầu dao động. Sau ba ngày suy nghĩ, cuối cùng, ông quyết định nạp Đậu Thổ Môn làm phi tần. Để hợp lý hóa hơn nữa việc nạp một góa phụ, vốn là vợ của kẻ địch, làm vợ, trong buổi sáng đưa ra quyết định, nhà vua đã kể với các bối lặc một câu chuyện ly kỳ rằng: Trong một lần trên đường hành quân, ông đã đóng trại gần sông Nạp Lý Đắc, đột nhiên, có một con chim trĩ không biết từ đâu bay tới xông thẳng vào trong lều của mình. Ông cho rằng, đó là điềm lành báo hiệu rằng, sẽ có mỹ nhân tìm tới với mình. Việc Đậu Thổ Môn tìm tới chính là điều ứng với điềm báo này. 
Nói cách khác, việc Đậu Thổ Môn tìm tới chính là “ý chỉ của trời”, do vậy nhà vua buộc phải chấp nhận. Ngay sau đó, Hoàng Thái Cực đã phái thuộc tướng của mình tới đón Đậu Thổ Môn. Đa Ni Khố Lỗ Khắc sau khi hoàn thành sứ mệnh của mình là đưa Đậu Thổ Môn tới doanh trại của ông, cũng vì cuộc hôn nhân này mà quyết định đầu hàng Hoàng Thái Cực.
Tuy nhiên, Đậu Thổ Môn không phải là mỹ nhân duy nhất ứng với điềm báo. Chưa đầy một năm kể từ khi Đậu Thổ Môn được đưa vào hậu cung, tháng 3 năm 1635, vợ cả của Lâm Đan Hãn là Đa La cũng mang một đoàn người gồm 1500 hộ dân tới quy hàng. Tháng 4 năm đó, một phi tần khác của Lâm Đan Hãn là Tô Thái và con trai là Ngạch Triết, người kế vị Lâm Đan Hãn, cũng mang hơn 1.000 hộ dân tới đầu hàng, đồng thời dâng ngọc tỷ truyền quốc của các bộ tộc Mông Cổ. 
Sau 2 vị phi tần được xếp hàng đầu trong hậu cung của Lâm Đan Hãn, rất nhiều phi tần khác của ông ta cũng lần lượt tìm tới, bao gồm hai người thiếp là Bá Kỳ và Nga Nhĩ Triết Y Đồ. Ngoài ra còn có Thái Tùng công chúa, em gái của Lâm Đan Hãn, cũng tới quy hàng Hoàng Thái Cực.
Trong số những người phụ nữ vốn trước kia thuộc về Lâm Đan Hãn này, người có địa vị quan trọng nhất đương nhiên là Đa La. Cô không chỉ xuất thân trong một gia đình quận vương Mông Cổ mà còn là vợ cả của Lâm Đan Hãn. Vậy ai có thể là người xứng đôi vừa lứa với một vương hậu Mông Cổ tôn quý như Đa La? Đương nhiên không có ai khác ngoài vị tân Đại Hãn vừa lên ngôi – Hoàng Thái Cực. Khi quần thần kiến nghị, ban đầu, ông cũng từ chối chuyện hôn nhân này. Tuy nhiên, khi các bối lặc và đại thần cố nài nỉ, ông đành phải chấp nhận, đón Đa La vào thành rồi tổ chức nghi lễ nạp thiếp cực kỳ long trọng.
Lấy ba cô cháu ruột làm vợ
Trong số 5 vị hậu phi có địa vị cao nhất trong hậu cung thời Hoàng Thái Cực, ngoài 2 góa phụ vốn là vợ của kẻ thù nói trên, ba người còn lại cũng đều xuất thân từ Mông Cổ. Điều kỳ quái nhất, ba người này là ba cô cháu ruột.
Trong số các bộ tộc Mông Cổ, Khoa Nhĩ Tâm là một trong những bộ tộc quy phục Hậu Kim sớm nhất. Vào năm 1614, Mãng Cổ Tư, anh trai của bối lặc Minh An, thủ lĩnh của tộc Khoa Nhĩ Tẩm, đã đem con gái của mình gả cho Hoàng Thái Cực làm vợ. Đây chính là Hiếu Đoan Văn Hoàng hậu hay còn gọi là Triết Triết Hoàng hậu. 
Việc kết hôn với con gái một thủ lĩnh Mông Cổ đã giúp ông củng cố quan hệ giữa hai bộ tộc Mãn và Mông. Vì thế, tới năm 1629, khi Hoàng Thái Cực dẫn quân tấn công nhà Minh, 23 vị bối lặc của bộ tộc Khoa Nhĩ Tẩm đã dẫn quân của mình đi theo, giúp ông lập không ít công trạng.
Năm 1625, tức năm Thiên Mệnh thứ 10 triều Hậu Kim, con trai của Bối lặc Tể Tang là Ngô Khắc Thiện mang em gái của mình là Bố Mộc Bố Thái đang cho Hoàng Thái Cực làm vợ. Đó chính là người sau này trở thành Trang phi nổi tiếng trong sử sách Trung Quốc. Tuy nhiên, điều đáng nói là, bối lặc Tể Tang chính là con trai của Mãng Cổ Tư, là anh em với Triết Triết hoàng hậu của Hoàng Thái Cực. Như vậy, Trang phi chính là là cháu ruột gọi Triết Triết hoàng hậu là cô. 
Trang phi chính là mẹ ruột của hoàng đế Phúc Lâm, hoàng đế thứ ba của triều đình nhà Thanh. Cuộc đời của Trang phi trải qua ba đời hoàng đế, chứng kiến triều đình nhà Thanh từ thời loạn đến thời trị. Trong hoàn cảnh đó, Trang phi chính là người đã trợ giúp hoàng đế, điều hòa các mâu thuẫn trong nội bộ triều Thanh, có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự thống nhất của quốc gia. Chính vì thế, người đời sau vẫn gọi Trang phi là “quốc mẫu thời nhà Thanh”.
Chuyện ly kì chưa dừng lại ở đó. Vào năm 1634, Ngô Khắc Thiện lại dâng một người em gái khác của mình tới Thẩm Dương làm vợ Hoàng Thái Cực. Người này chính là em gái ruột của Trang phi, Hải Lân Châu, người được ông phong làm Thần phi. Nếu như Trang phi là người phụ nữ thông minh và quyền biến thì Thần phi lại là mỹ nhân tuyệt sắc. 
Chính vì thế, sau khi vào cung, Thần phi nhanh chóng trở thành phi tần được Hoàng Thái Cực sủng ái nhất. Ông cho Thần phi vào ở tại cung điện được đặt tên là “Quan Tuy cung”. Thần phi đứng thứ 2 trong số 5 người có vị trí tôn quý nhất trong Hậu cung, chỉ đứng sau người cô của mình là Triết Triết Hoàng hậu.
Không may là hồng nhan thường bạc mệnh. Năm 33 tuổi, Thần Phi mắc bệnh qua đời. Vì chuyện này, Hoàng Thái Cực đau đớn tột cùng, thậm chí có lúc khóc ngất đi. Sau đó, Hoàng Thái Cực tổ chức tang lễ cho Thần phi rất long trọng, ban thụy hiệu cho bà là “Mãn Huệ Cung Hòa nguyên phi”. Đây là phi tần có thụy hiệu (tước hiệu sau khi chết) dài nhất trong số các phi tần của triều đình nhà Thanh.
Mất đi người đẹp mà mình sủng ái nhất, Hoàng Thái Cực vô cùng buồn bã, cả ngày không ăn, không uống khiến sức khỏe ngày một suy giảm, nhiều lúc cứ ngồi lảm nhảm một mình. Các đại thần thấy vậy bèn nghĩ ra cách mời ông đến sông Bồ Hà đi săn để giải khuây. 
Không ngờ, đường tới Bồ Hà lại phải đi qua mộ của Thần Phi. Khi Hoàng Thái Cực vừa nhìn thấy mộ của Thần phi, nỗi đau buồn lại trỗi dậy, ông vua triều Thanh lại ngồi khóc lên khóc xuống một trận ngay trước mộ của người thiếp yêu. Có lẽ vì quá yêu thương Thần phi nên sau khi bà chết chưa đầy hai năm, Hoàng Thái Cực cũng theo bà xuống suối vàng. Tình cảm si mê mà ông dành cho bà thực sự là cực kỳ hiếm thấy đối với những vị hoàng đế thê thiếp đầy đàn trong thời phong kiến.
Ngoài việc lấy cả ba cô cháu gái ruột làm vợ, Hoàng Thái Cực thậm chí còn để cho một người vợ của mình đi kết hôn với người khác. Một phi tần là Bác Nhĩ Tề Cát Đắc thị, con gái của bối lặc Đại Thanh, thuộc bộ tộc Trát Lỗ Đắc của Mông Cổ, từng sinh cho ông hai người con gái. Tuy nhiên, sau đó, chính ông đã ra lệnh cho Bác Nhĩ Tề Cát Đắc thị kết hôn với Nam Chử, con trai của Đức Nhĩ Cách của bộ Diệp Hách. 
Sử sách chép rằng: “Phúc tán (phi tần) thứ ba của ông là con gái của Đại Thanh bối lặc Ba Nhã Nhĩ Đồ không hợp ý nên ông đã gả bà cho Nam Chử, con trai của Đức Nhĩ Cách, thuộc bộ Diệp Hách”. Là một hoàng đế, chúa tể thiên hạ nhưng ông lại gả vợ mình cho người đàn ông khác. Có lẽ đây là trường hợp có một không hai trong lịch sử.
Theo Hôn Nhân & Pháp Luật

Lý Nhã Kỳ tự biến mình thành ‘yêu cơ’?

Lý Nhã Kỳ

Chuyện ngoại tình và hành nghề mại dâm của hoàng hậu La Mã

Trong Đế chế La Mã, việc ngoại tình và hành nghề mại dâm của hoàng hậu Valeria Messalina được coi là mốt thời thượng. Trước thời trị vì của vua Claudius, nghề mại dâm được khuyến khích phát triển dưới thời trị vì của vua Caligula (37 - 41 TCN).

Đế chế La Mã trải dài qua 16 thế kỷ, bắt đầu từ năm 27 TCN với sự lên ngôi của hoàng đế Augustus. Trong 16 thế kỷ này, thời kỳ trị vì của vị vua Claudius giai đoạn 41-54 TCN khiến nhiều nhà nghiên cứu, người viết sách tốn bút mực nhất về vị vua này cùng người vợ yêu Valeria Messalina.
Claudius là một vị vua bị sắc đẹp của Valeria Messalina làm mờ mắt tới mức bị chính người vợ này "cắm sừng" mà không hề hay biết. Còn Valeria Messalina được biết đến là vị hoàng hậu quyền lực nhất do được vua yêu chiều nhất. Thế nhưng, khi có quyền lực trong tay, bà trở nên độc ác và dâm đãng đến mức thích làm gái đứng đường và lập âm mưu giết chồng để đưa người tình lên làm vua.
Nổi tiếng dâm đãng
Theo sử sách ghi lại, Valeria Messalina sinh ra trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc của Đế chế La Mã lúc bấy giờ. Cha mẹ Valeria Messalina là Domitia Lepida và Marcus Valerius Messalla Barbatus vốn là hai anh em họ và đều là những người có địa vị trong xã hội. Thế nên việc ra vào cung điện, gặp gỡ, tiếp xúc với vua Claudius là chuyện quá dễ dàng với Valeria Messalina.
Trong giới quý tộc, địa vị lúc bấy giờ, Valeria Messalina được nhiều người yêu mến, ngưỡng mộ bởi vẻ đẹp quyến rũ, lay động lòng người. Ngay khi chào đời, người ta đã biết đến vẻ đẹp của nàng với nước da trắng ngần, đôi môi hồng và cặp mắt to tròn quyến rũ. Những nét đẹp này của nàng là sự tổng hòa của tất cả những gì tinh túy nhất của cha và mẹ nàng. Càng lớn, cô bé Valeria Messalla càng trở nên xinh xắn, đáng yêu, cô trở thành niềm tự hào của cha mẹ, họ hàng. Bởi mỗi vị khách tới nhà cô chơi, chỉ cần Valeria Messalla hướng đôi mắt to tròn và nở nụ cười mê hồn với khách, những vị khách ấy đều trở nên ngẩn ngơ, chẳng muốn về.
Lối sống buông thả, dâm đãng của Valeria Messalla được hình thành trong chính cách giáo dục của gia đình và ảnh hưởng từ xã hội. Bởi từ nhỏ, nàng đã được bố mẹ nuông chiều hết mực, nàng thích làm gì, bố mẹ nàng cũng không ngăn cấm. Ngược lại, họ còn khuyến khích nàng quyến rũ đàn ông để thể hiện đẳng cấp. Bởi thời đó, xã hội La Mã vô cùng suy đồi, chế độ xã hội cho phép nữ giới hành nghề mại dâm, từ bậc quý tộc đến phân tầng thấp nhất của xã hội, ai cũng được phép hành nghề mại dâm.
Người phụ nữ dù đã có chồng vẫn hành nghề mại dâm, thế nên mới có trào lưu ai càng nhiều người tình, càng được tôn sùng. Thế nên khi trở thành thiếu nữ, lối sống dâm đãng ấy được nàng vận dụng tối đa thông qua sự giúp đỡ của sắc đẹp. Chỉ là những cái nắm tay, liếc mắt đưa tình hay nụ cười đẹp mê hồn nàng vô tình ban phát, đàn ông đã quỳ mọp dưới chân nàng. Biết nhan sắc của mình có sức mạnh ghê gớm, để đạt được thứ mình muốn, nàng sẵn sàng lên giường với bất kể người đàn ông nào như một thói quen. Thế nên từ một cô tiểu thư danh giá, sống trong sự xa hoa, nhung lụa, nàng trở thành một gái điếm hạng sang chỉ cốt thỏa mãn đam mê xác thịt của bản thân.
cốt thỏa mãn đam mê xác thịt của bản thân.
Hoàng hậu La Mã Valeria Messalina.
Sau khi chán chê với những thứ tầm thường mình có được một cách dễ dàng nhờ nhan sắc, nàng quyết định chinh phục người quyền lực nhất đất nước khi đó. Với địa vị to lớn trong xã hội cùng sự giúp đỡ của gia đình, nàng gặp hoàng đế một cách dễ dàng. Cũng như những người đàn ông khác, sau vài lần gặp gỡ Valeria Messalina, vị hoàng đế La Mã đã quá tuổi tứ tuần cũng say nàng như điếu đổ. Bất chấp những lời đồn thổi không tốt về Valeria Messalina, Claudius quyết định lấy nàng làm vợ. Nhờ kinh nghiệm chăn gối đúc kết từ bao năm cùng sắc đẹp lay động lòng người, chỉ trong một thời gian ngắn, nàng chinh phục được hoàng đế. Từ một người vợ thứ, nàng được phong làm hoàng hậu với uy quyền lớn lao. Chỉ cần nhà vua trái ý nàng, dù là chuyện nhỏ nhất, nàng sẵn sàng “bỏ đói” ngài, thế nên, để được lòng người đẹp, nhà vua dâng quyền lực cho nàng, cho nàng tự ý quyết định nhiều việc hệ trọng.
Đằng sau những căn phòng bí mật
Khi đã ở trên ngôi vị cao nhất của một người phụ nữ trong chế độ La Mã, Valeria Messalina lại càng không từ bỏ được sự ham muốn xác thịt trần tục của mình. Bà không thể chịu đựng nổi việc thiếu đàn ông trong mỗi đêm (ngoài Valeria Messalina, vua Claudius còn có những người đàn bà khác). Bà chán nản khi phải tự giúp nhà vua sung sướng mỗi khi gần gũi trong khi bản thân bà lại không được. Với bà, chuyện chăn gối là nghệ thuật, để đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật phải có sự kết hợp của cả hai trong khi nhà vua lại càng ngày già yếu còn bà lại vô cùng sung mãn.
Thế nên, để giải quyết thú vui nhục dục, bà cho người xây dựng những căn phòng bí mật ngay trong hậu cung để tiếp những vị khách ghé thăm vào mỗi đêm. Sau khi những vị khách ấy đi, bà thường lấy của họ 1 đồng xu để đếm số lượng người mình phục vụ. Số đồng xu càng nhiều, sự thỏa mãn xác thịt của bà càng lớn. Theo sử sách ghi lại, hoàng hậu Valeria Messalina luôn cảm thấy hài lòng khi được phục vụ những bậc vương tôn công tử ghé qua cung điện mỗi đêm.
Sau khi chán việc phục vụ đàn ông thượng lưu, hoàng hậu còn xuất cung để "đổi gió". Bà thích những người đàn ông tầm thường ngoài đường phố mỗi đêm, thích thú ngắm nhìn, chiêm ngưỡng cảnh bon chen, lôi kéo khách của gái bán hoa mỗi đêm và hài lòng khi mình đắt khách nhất. Sự việc chỉ đến tai vua Claudius khi bà rắp tâm giết vua để đưa nhân tình của mình là Gaius Silius (đã có vợ con) lên ngai vàng. Cái giá phải trả cho vị hoàng hậu dâm đãng, được vua yêu chiều hết mực chính là án chặt đầu.
Hoàng hậu Valeria Messalina đã phạm nhiều tội
Trong Đế chế La Mã, việc ngoại tình và hành nghề mại dâm của hoàng hậu Valeria Messalina được coi là mốt thời thượng. Trước thời trị vì của vua Claudius, nghề mại dâm được khuyến khích phát triển dưới thời trị vì của vua Caligula (37 - 41 TCN). Vua Caligula cho xây dựng những căn phòng xa hoa, lập nhà thổ ngay trong cung điện của mình và khuyến khích các quan lại mang vợ của mình đến đây bán dâm. Thế nên, khi biết người vợ yêu quí của mình cho mình mọc sừng, nhà vua vẫn bỏ qua bởi ông quá yêu nàng. Theo sử sách, nhà vua yêu Valeria Messalina tới mức sinh nhật nàng mở tiệc tùng linh đình, cho dân chúng ăn cùng và tạc tượng nàng đặt ở những nơi trang trọng. Tình yêu ấy chỉ biến thành lòng thù hận, khi Valeria Messalina thực hiện âm mưu giết chết nhà vua để nắm quyền nhiếp chính cùng người tình Gaius Silius. Sau khi nàng chết, nhà vua trở nên lầm lì, ít nói bởi ông mất niềm tin vào tình yêu, cuộc sống.
Nếu chiếu theo quy định của pháp luật Việt Nam, hoàng hậu Valeria Messalina có nhiều hành vi vi phạm pháp luật. Thứ nhất là hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng theo khoản 2, Điều 4 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Luật này quy định: Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.
Theo luật này, hoàng hậu Valeria Messalina vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình, có thể truy cứu trách nhiệm hình sự và phải bồi thường bởi bà đã lợi dụng chức vụ của mình, bắt Gaius Silius phải bỏ vợ con để đến ở với bà. Ngoài vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, hoàng hậu Valeria còn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi bán dâm. Theo khoản 2, Điều 23 của Pháp lệnh phòng chống mại dâm năm 2003: Người bán dâm, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh.
Để bảo vệ quyền lợi của mình, bà đã cố tình hãm hại Agrippina, người vợ thứ tư của Claudius và sai người tới phòng Nero con trai của Agrippina để ám sát. Bên cạnh đó, bà cùng với Gaius Silius lên kế hoạch ám sát hoàng đế khi ngài đang đi thị sát để lên nắm quyền nhiếp chính. Với những hành vi trên, bà hoàng này còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 93 Bộ luật Hình sự về tội giết người và phải đối diện với mức hình phạt cao nhất: Tử hình.
Vân Thanh

Những vụ "cắm sừng" hoàng đế nổi tiếng nhất Trung Hoa

(Soha.vn) - Các vị vua nổi tiếng của Trung Hoa đã không ít lần bị cắm sừng bởi những bà vợ tuyệt thế giai nhân của mình.

Lương Nguyên Đế - bị cắm sừng vì quá "xấu trai"
Lương Nguyên Đế Tiêu Dịch vốn được biết tới là một vị vua hết sức am hiểu thi ca, âm luật, viết chữ đẹp song lại có ngoại hình không được ưa nhìn cho lắm với một bên mắt bị mù. Trong khi đó, vợ cả của ông Từ Chiêu Bội được biết tới là một mỹ nữ sắc nước hương trời, được rất nhiều đàn ông thèm muốn. Cuộc sống hôn nhân của cả hai người vốn chẳng hề mặn nồng, đặc biệt là trong đời sống tình dục.
Dung mạo không được tuấn tú của vị vua nhà Lương luôn khiến Từ Chiêu Bội cảm thấy bất mãn và vì thế bà luôn chỉ trang điểm một nửa khuôn mặt của mình mỗi lần gặp ông. Sau khi bị Tiêu Dịch xa lánh, vị nương nương này bắt đầu tìm tới người tình đầu tiên là một hòa thượng phong lưu có tên là Trí Viễn ở chùa Dao Quang tại Kinh Châu.
Những vụ
Từ Chiệu Bội là một người phụ nữ đa tình - Ảnh minh họa

Tuy nhiên, việc liên tục phải tìm cách ra khỏi cung để tìm tới chùa Dao Quang dần tỏ ra bất tiện và Từ Chiêu Bội bắt đầu chuyển sang để ý tới vị đại thần khác trong triều là Ký Quý Giang, một con người có vẻ ngoài hết sức khôi ngô, tuấn tú. Cả hai thường gặp nhau lén lút mỗi dịp Quý Giang được mời vào cung. Chưa dừng lại ở đó, Từ Chiêu Bội còn hẹn hò với một thi nhân đương thời nổi tiếng khác là Hạ Huy. Vốn đã bị nhà vua ghẻ lạnh từ lâu, thậm chí người phụ nữ còn công khai đi lại với “người tình” trước mắt bàn dân thiên hạ.
Những việc làm của Từ Chiêu Bội càng ngày càng khiến Tiêu Dịch tức giận và ông đã mượn cớ vu oan vợ mình hãm hại một cung nữ để bắt bà phải tự vẫn. Sự trả thù của vị vua nhà Lương còn tiếp tục với việc trả xác người phụ nữ này về nhà bố mẹ đẻ. Tiếp đó, ông còn tự tay viết lại câu chuyện trăng hoa của Từ Chiêu Bội để toàn dân thiên hạ được biết.
Thái tổ Nhà Thanh - bị cắm sừng vì quá già
Vị vua đầu tiên của nhà Thanh vốn có một mối quan hệ hết sức phức tạp với người vợ A Ba Hợi của mình, phần nhiều vì chênh lệch tuổi tác. Năm 12 tuổi thì A Ba Hợi được gả về với Nỗ Nhĩ Cáp Xích khi đó đã ngoài 60. Mối quan tâm duy nhất của Thanh Thái tổ chỉ là có thật nhiều con cháu để kế thừa cơ nghiệp trong khi tuyệt thế giai nhân A Ba Hợi lại mong muốn nhiều hơn thế.
Những vụ
A Ba Hợi trong phim

Chán ghét Nỗ Nhĩ Cáp Xích, A Ba Hợi dần nảy ra ý định tìm tới một người khác trẻ trung và phù hợp hơn. Tuy nhiên, để đảm bảo sự an toàn tính mạng của chính mình, bà đã quyết định chọn “người tình” chính là những người con của chồng khi ngay cả người con thứ của Nỗ Nhĩ Cáp Xích cũng đã hơn bà tới 7 tuổi. Tuy nhiên, việc ngoại tình với vị hoàng tử cả Đại Thiện và vị con thứ tư Hoàng Thái Cực cũng nhanh chóng bị người vợ khác phát hiện và nói với Nỗ Nhĩ Cáp Xích không lâu sau đó.
Dù không trừng phạt người vợ trẻ lăng loàn của mình ngay lúc đó song Thanh Thái tổ đã có những tính toán hết sức sâu sa về việc chia sẻ quyền lực sau khi mình qua đời dành cho vợ và các con. A Ba Hợi đã bị bốn vị thân vương con chồng ép phải thắt cổ tự vẫn để đảm bảo quyền lực cho bản thân.
Phổ Nghi – bị cắm sừng vì chán ghét vợ
Theo lệnh của Từ Hy Thái hâu thì Phổ Nghi đã phải lập hậu từ năm 15 tuổi. Tuy nhiên, phải đến tận 2 năm sau khi ông mới chính thức cưới người vợ đầu tiên của mình là Uyển Dung. Dù có một hôn lễ xa hoa hàng đầu trong lịch sử Trung Quốc song đêm tân hôn của hai người đã kết thúc bằng việc vị hoàng đế trẻ tuổi cảm thấy ngột ngạt và chạy vội về điện Dưỡng Tâm.
Những vụ
Phổ Nghi và Uyển Dung khi cưới

Cho tới khi Phổ Nghi bị Nhật đưa sang Mãn Châu, Uyển Dung cũng được đi theo nhưng càng ngày nàng lại cảm thấy càng buồn chán vì không được chồng mình đoái hoài gì đến. Bà dần xa vào nghiện ngập và lén lút quan hệ với “người tình” bên ngoài tới mức cả hai còn có con với nhau. Phổ Nghi đã chẳng hề tỏ vẻ thương xót “con rơi” của vợ khi ném đứa bé sơ sinh này vào lò lửa. Cũng chính vì thế mà cuộc đời của Uyển Dung ngày càng trở nên buồn chán và sa đọa hơn trước kia. Bà qua đời với một thân thể tàn tạ được mô tả không khác gì “xác ve” cả.

Tiết lộ chuyện động phòng hoa chúc các Hoàng đế cổ đại

Website: kenhdichvu24h.com

(Phunutoday.vn) - Sở hữu tam cung lục viện cùng hàng ngàn mỹ nữ, tuy nhiên, Hoàng đế cũng như người bình thường, cả đời chỉ được trải qua một lần kết hôn và một đêm động phòng duy nhất. Tuy nhiên, vì là một Hoàng đế, một thiên tử, một chúa tể của cả thiên hạ, thành ra, đêm động phòng hoa chúc, vốn được coi là đêm khoái lạc của đời người thì với Hoàng đế lại không dễ dàng chút nào…



1. Các Hoàng đế thời cổ đại dường như ai cũng có tam cung lục viện, bảy mươi hai phi tần, điều này đã trở thành một truyền thống trong chốn hậu cung Trung Hoa. Tuy nhiên, dẫu có 3.000 mỹ nữ thì các vị Hoàng đế cũng giống như người thường, cả đời chỉ được kết hôn có một lần, đó là hôn lễ được tổ chức đầu tiên và cũng là hôn lễ quan trọng nhất: lễ cưới hoàng hậu. Người ta gọi hôn lễ này là “đại hôn”.

Song, cũng có những trường hợp ngoại lệ, khi Hoàng hậu bị phế hoặc không may qua đời, thì Hoàng đế lại có cơ hội tổ chức đại hôn một lần nữa. Cũng có nghĩa là lại có thêm một mỹ nhân nhan sắc nghiêng thành có cơ hội cùng với Hoàng đế trải qua đêm động phòng hoa chúc.

Chẳng hạn như Hoàng hậu Bác Nhĩ Tề Cát Đặc, vợ của Hoàng đế Thuận Trị Phúc Lâm đời nhà Thanh, do “bất hòa với trẫm” nên bị phế xuống làm Tịnh phi. Thay vào đó, một mỹ nhân khác được lựa chọn để đưa vào phòng tân hôn của Hoàng đế Thuận Trị. Người đó chính là Hiếu Huệ Hoàng hậu. Ngoại trừ Hoàng hậu, trong hậu cung, phi tần có được sủng ái tới mức nào cũng khó có thể được hưởng nghi lễ hoành tráng, xa hoa như nghi lễ đại hôn của Hoàng hậu.
Sở hữu tam cung lục viện cùng hàng ngàn mỹ nữ, tuy nhiên, Hoàng đế cũng như người bình thường, cả đời chỉ được trải qua một lần kết hôn và một đêm động phòng duy nhất.
Vua Thuận Trị cũng rất sủng ái Đổng Ngạc phi, trong cung có thể nói là không ai có thể sánh bằng, tuy nhiên, Đổng Ngạc phi chỉ có thể tiến cung trên danh nghĩa một “vợ bé” không hơn không kém. Nói cách khác, ngoài Hoàng hậu ra, các phi tần khác đều được coi là vợ bé và không bao giờ được đón vào cung trong một đại lễ long trọng, xa hoa như đối với Hoàng hậu.

Quá trình một mỹ nhân có thể vào hậu cung của Hoàng đế đồng thời trở thành bậc mẫu nghi thiên hạ không khác nhiều với phong tục trong dân gian. Cũng có đầy đủ các bước từ dạm ngõ tới nạp tại, hỏi cưới và rước dâu. Chỉ có điều, các tập tục này do là hôn lễ của Hoàng đế, người sở hữu cả thiên hạ nên được tổ chức cực kỳ tỉ mỉ, hoành tráng và xa hoa. Một điểm khác quan trọng nữa là Hoàng đế không bao giờ trực tiếp đi đón dâu mà ngược lại, sai người đưa cả cô dâu và gia đình cô dâu tới tận hoàng cung của mình. Hoàng đế chỉ đợi sẵn trong hậu cung, chờ đến ngày được động phòng với cô dâu mà thôi.

Cũng giống như trong các đám cưới dân gian, Hoàng đế và Hoàng hậu cũng động phòng. Tuy nhiên, nghi thức động phòng của Hoàng đế không giống với chuyện động phòng trong dân gian. Đêm động phòng của Hoàng đế không phải được tổ chức ở tẩm cung thường ngày của Hoàng đế, cũng không có một nơi nào được sử dụng làm phòng tân hôn cố định. Thông thường, phòng tân hôn được bố trí ngay tại nơi diễn ra hôn lễ giữa Hoàng đế và Hoàng hậu.

Thời Minh và thời Thanh, hôn lễ của Hoàng đế thường được tổ chức tại cung Càn Ninh. Cung Càn Ninh là một trong ba cung cuối cùng của hoàng cung. Dưới triều Minh, cung Càn Ninh vốn là tẩm cung của Hoàng hậu. Tới thời Thanh, hai gian quay mặt về phía Đông của cung này được sử dụng làm phòng tân hôn cho Hoàng đế, còn 5 phòng ở phía Tây thì được đổi làm gian thờ đạo Tát Mãn của người Mãn Thanh.

Hôn lễ cưới Hoàng hậu của Hoàng đế dưới triều Thanh được tổ chức một cách rất long trọng và tỉ mỉ. Hoàng hậu mới được khiêng kiệu đi từ cổng Đại Thanh đi vào Thiên An Môn, Ngọ Môn rồi mới tới hậu cung. Trong khi đó, những phi tần khác trong ngày trọng đại nhất của mình chỉ có thể đi từ cửa sau của Tử Cấm Thành là Thần Vũ Môn để vào hậu cung.
Trong dân gian, những tân lang và tân nương chỉ chờ đợi tới khi động phòng, nên sau khi được dẫn vào phòng tân hôn là vội vã hành sự ngay.
Thời nhà Thanh, để chuẩn bị cho đêm tân hôn, tường của phòng tân hôn được sơn toàn bộ bằng màu hồng. Trước cửa còn treo một chiếc đèn lồng thật lớn có chữ hỷ ở trên. Trên cửa là chữ Hỷ lớn màu vàng viết trên giấy đỏ, phía trên là một chữ thọ viết theo thể thảo thư, hai bên cửa là hai câu đối chúc phúc cho cô dâu và chú rể. Xung quanh phòng tân hôn, ở các góc và các con đường đều có dán những chữ hỷ, ngụ ý khi Hoàng đế và Hoàng hậu mở cửa ra sẽ nhìn thấy chữ hỷ may mắn.

Đêm tân hôn của Hoàng đế đương nhiên xa hoa hơn nhiều so với những người bình thường. Tuy nhiên, cũng giống như người thường, phòng tân hôn của Hoàng đế cũng được dán chữ song hỷ màu đỏ, hai bên giường cũng treo câu đối chúc phúc tân hôn hạnh phúc. Màu sắc chủ đạo của phòng tân hôn là màu đỏ khiến cả gian phòng ngập tràn không khí vui tươi, hạnh phúc. Trước giường treo một bức rèm “trăm con”, và trên giường cũng là chiếc chăn “trăm con”, là những chiếc rèm và chăn có thêu hình 100 đứa trẻ con với nhiều tư thế khác nhau.

Người Trung Quốc cho rằng những chiếc chăn, chiếc rèm này là lời chúc phúc cho cặp vợ chồng mới cưới hạnh phúc trăm năm, con đàn cháu đống. Với những người bình thường, việc sinh con là việc trọng đại, với các Hoàng đế điều này càng trở nên quan trọng. Ngoài ra, xung quanh hai bên đầu giường được treo rất nhiều lớp lụa và voan cũng có màu hồng.

2. Trong dân gian, những tân lang và tân nương chỉ chờ đợi tới khi động phòng, nên sau khi được dẫn vào phòng tân hôn là vội vã hành sự ngay. Tuy nhiên, Hoàng đế thì không có quyền vội vã. Trước khi được phép ân ái với người vợ đầu tiên của mình, Hoàng đế phải thực hiện hàng loạt các nghi lễ khá phức tạp và rối rắm.

Theo sách “Tân Đường thư” có chép, vào thời nhà Đường, sau khi làm lễ cưới, Hoàng đế và Hoàng hậu được đưa vào phòng tân hôn, tiếp đó, phải làm lễ bái thần linh, tỏ lòng thành kính với trời, đất và tổ tiên. Sau khi thực hiện hàng loạt nghi thức tế lễ, Hoàng đế và Hoàng hậu uống một chén rượu giao bôi. Tuy nhiên, sau khi thực hiện xong tất cả các nghi lễ, không phải Hoàng đế và Hoàng hậu sẽ được rảnh rang tình tự, ân ái mà mọi việc vẫn phải theo trình tự.

Sau khi đã hoàn thành mọi nghi lễ, Hoàng đế được những người hầu dẫn tới phòng riêng. Cung nữ sẽ giúp Hoàng đế cởi bỏ lễ phục, mũ mão, mặc một bộ quần áo thường ngày. Còn Hoàng hậu được một cung nữ khác dẫn vào giường rồi giúp Hoàng hậu cởi bỏ toàn bộ quần áo. Tới lúc này, cung nữ mới dẫn Hoàng đế đã thay xong quần áo vào bên trong, cùng Hoàng hậu hưởng thụ đêm động phòng hoa chúc.

Thời nhà Thanh, các nghi lễ diễn ra trong đêm động phòng còn nhiều hơn. Người Mãn theo tôn giáo Tát Mãn, tuy nhiên, khi thực hiện nghi thức động phòng cũng không thiếu những lễ tế bái thần linh. Trước khi Hoàng đế và Hoàng hậu lên giường hưởng thụ đêm động phòng, còn phải thực hiện nghi lễ ở gian thờ. Nghi lễ được một thầy phù thủy của đạo Tát Mãn thực hiện.

Thời xưa, người ta coi đêm động phòng hoa chúc là một trong bốn điều đại hỷ của đời người. Tuy nhiên, đối với Hoàng hậu, lễ đại hôn thực tế là một cuộc hôn nhân mang màu sắc chính trị, nhiều khi họ vị bất đắc dĩ, thậm chí đau khổ mà chấp nhận. Do vậy, đêm động phòng với họ không phải bao giờ cũng là biểu tượng cho sự ân ái và khoái lạc.
Đêm tân hôn buồn bã nhất của Hoàng đế có lẽ chính là đêm tân hôn của Hoàng đế Quang Tự với Hoàng hậu Long Dụ.
Sau khi kết hôn, mặc dù là vợ cả của Hoàng đế nhưng Hoàng hậu và Hoàng đế không bao giờ được sống cùng với nhau ở một nơi. Tuy nhiên, một thời gian ngắn sau khi kết hôn, thông thường, đêm nào Hoàng đế và Hoàng hậu cũng ở cùng nhau.

Trong thời gian khoảng một tháng này, Hoàng hậu được ở lại phòng tân hôn ở phía Tây của cung Càn Ninh. Tiếp đó, Hoàng hậu và Hoàng đế mỗi người sẽ sống ở tẩm cung riêng dành cho mình. Tuy nhiên, đó chỉ là quy định, trong lịch sử gần 300 năm của nhà Thanh, chỉ có một mình Hoàng đế Khang Hy là ở cùng Hoàng hậu trọn vẹn một tháng sau lễ đại hôn. Các Hoàng đế chỉ ở được vài ngày. Có trường hợp như Thuận Trị Hoàng đế chỉ ở với Hoàng hậu có hai đêm rồi ai lại về nhà nấy.

Đêm tân hôn buồn bã nhất của Hoàng đế có lẽ chính là đêm tân hôn của Hoàng đế Quang Tự với Hoàng hậu Long Dụ. Long Dụ vốn là chị họ của Quang Tự. Quang Tự không thích nên dù hai người đã làm đại lễ, Quang Tự vẫn không muốn động tới Long Dụ.

Cuối cùng, Quang Tự nằm trên người Long Dụ mà khóc rống lên, nói rằng cả đời mình chỉ có thể kính trọng Long Dụ chứ không thể coi Long Dụ như vợ được. Một thời gian dài sau khi kết hôn, Quang Tự vẫn không một lần gần gũi Long Dụ. Nguyên nhân là vì Quang Tự đã đem lòng yêu Trân Phi, tuy nhiên, Từ Hy Thái hậu ép Quang Tự phải lấy người chị họ của mình vì vậy mới nảy sinh chuyện đáng buồn này.

Trường hợp đêm tân hôn của Hoàng đế Phổ Nghi - Hoàng đế cuối cùng của triều Thanh, có lẽ là trường hợp độc nhất vô nhị. Lễ đại hôn Phổ Nghi được tổ chức sau khi ông ta đã thoái vị, song sự long trọng thì không hề kém so với những vị tổ tiên của mình. Tuy nhiên, trong đêm tân hôn, Phổ Nghi đã bỏ tới điện Dưỡng Tâm ở một mình với lý do cảm thấy ở phòng tân hôn không thoải mái. Thành ra, hai vị tân nương cùng được đưa vào phòng tân hôn đêm hôm đó đã phải nằm không một mình mà không biết đấng tân lang của mình ở nơi nào.

Phong Nguyệt
TIN LIÊN QUAN
Võ Tắc Thiên không phải là nữ Hoàng đế đầu tiên và duy nhất của Trung Quốc? Những chiêu “lập quỹ đen” siêu việt của các Hoàng đế Trung Hoa Bi hài chuyện những vị Hoàng đế cưới “chui” Hoàng đế giết con mình để làm đẹp lòng mỹ nữ Hé lộ chuyện “giáo dục giới tính” của các Hoàng đế Trung Hoa Vị Hoàng đế bắt vợ khỏa thân cho các đại thần cùng chiêm ngưỡng Hậu cung của “Hoàng đế” lại vắng giai nhân !

Website: kenhdichvu24h.com